Tổ quốc
ăn năn
» Tác giả: Nguyễn Gia
Kiểng
» Dịch giả:
» Thể lọai: Văn
Học Nghệ Thuật
» Số lần xem: 341
|
1. Lời đầu Nguyễn Gia Kiểng |
Lời
đầu
Tôi
sang Pháp du học năm 1961, lúc 19 tuổi. Là đứa con
của đồng quê Việt Nam, tôi được nuôi
dưỡng lúc ban đầu bằng h́nh ảnh cánh
đồng, lũy tre, bờ ruộng, con c̣, bằng
những câu ca dao: bầu ơi thương lấy bí cùng...
ta về ta tắm ao ta, v.v... Lớn lên một chút nữa,
bằng những bài học quốc văn giáo khoa thư,
truyện Phạm Công Cúc Hoa, truyện Lưu B́nh -
Dương Lễ, truyện Tấm Cám, truyện Phù
Đồng Thiên Vương, truyện Thạch Sanh - Lư
Thông. Khi chớm có nhận thức, bằng những trang
sử oai hùng của dân tộc: Ngô Quyền phá quân Nam Hán, Lư
Thường Kiệt phá Tống b́nh Chiêm, Trần Hưng
Đạo phá quân Nguyên, Lê Lợi b́nh quân Minh, Quang Trung
đại thắng quân Thanh; bằng những gương
tuẫn quốc của Trần B́nh Trọng, Nguyễn Tri
Phương, Hoàng Điều. Vinh dự nhất là sự
hy sinh dũng liệt của Nguyễn Thái Học và
Việt Nam Quốc Dân Đảng. Vinh dự v́ trong trang
sử này gia đ́nh tôi có góp phần hy sinh. Trí tuệ
của tôi cũng được phần đào tạo
bằng thơ văn Nguyễn Công Trứ, bằng
Truyện Kiều, bằng tư tưởng Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, bằng B́nh Ngô Đại Cáo của
Nguyễn Trăi, bằng Hịch Tướng Sĩ của
Trần Hưng Đạo, bằng nhiều thơ văn
ái quốc, kề cả những bài thơ của
Đặng Phương - mà sau này tôi được
biết là Nguyễn Ngọc Huy. Tất cả cái
vốn liếng tinh thần và văn hóa đó khiến tôi
mang nặng một niềm tự hào dân tộc khi vừa
tới Pháp. Trong thâm tâm, tôi tin rằng Việt
Phương
Đông là nền văn minh lâu đời về tư
tưởng, đạo đức và văn hóa,
phương Tây chẳng qua chỉ hơn nhất thời
về khoa học và kỹ nghệ. Phương Đông có
chiều sâu trong khi phương Tây chỉ có bề rộng.
Phương Đông có bề trong, phương Tây chỉ có
bề ngoài; phương Đông có hồn trong khi
phương Tây chỉ có xác. Tôi c̣n nhớ đă nhiều
lần tranh luận gay go với những bạn học
người Pháp cũng đầy tự hào dân tộc
như tôi.
Sau
một vài năm tôi thạo tiếng Pháp. Tôi ham đọc
sách nên kiến thức vè lịch sử, chính trị,
văn hóa Pháp c̣n có phần trội hơn cả nhiều
bạn Pháp. Tôi tin là ḿnh đă hiểu rơ nước Pháp nói
riêng và phương Tây nói chung.
Tất
cả dần dần thay đỗi với thời gian.
Càng sống với người Pháp, càng làm việc với
họ và lại có dịp qua lại thường xuyên các
nước châu Âu tôi càng khám phá ra rằng tôi chưa
hiểu họ. Dần dần niềm tự hào dân tộc
giảm đi, nhường chỗ cho một sự hoang
mang và sau cùng là một sự chua xót và thẹn thùng vè sự
thua kém của đất nước Việt
Tôi nhận ra người châu Âu rất nhân bản, thâm
thúy, đầy óc sáng tạo, nền văn minh của
họ hơn hẳn nền văn minh của đất
nước ta, văn hóa của họ vượt hẳn
văn hóa của nước ta cả về lượng
lẫn phẩm.
Tôi
tự hào về trống đ̣ng, về thành Cỗ Loa,
về chùa Hương, về chùa Phổ Minh, vè các lăng
tẩm ở Huế đề rồi phải xấu
hỗ trước công tŕnh nghệ thuật nhiều
gấp bội, cổ kính hơn nhiều lần, vĩ
đại hơn nhiều lần và tinh xảo hơn
nhiều lần mà tôi gặp được mỗi khi
dừng chân ở bất cứ một địa
điểm nào tại các nước châu Âu. Th́ ra tôi đă
giống như một con ếch ngời đáy giếng.
Ngũ
thập tri thiên mệnh. Năm mươi tuổi biết
mệnh trời. Năm nay tôi đă ngoài 50 tuổi, không
biết tôi đă tri thiên mệnh chưa, nhưng tôi đă
khám phá ra một điều: đó là cái ǵ dù lạ lùng
đến đâu cũng đều có một giải thích
giản dị. Các nước phương Tây vượt
trội bởi v́ văn hóa của họ lành mạnh, tâm lư
của họ đúng đắn. Nước Việt
Đó
là lư do ra đời của cuốn sách khiêm nhường
này.
Xét
lại ḿnh là một thao dượt có khi rất đau
nhức, nhưng phải nh́n chân dung ḿnh ngay cả khi nó
không đẹp. Tôi xin lỗi các độc giả mà
những trang sau có thề làm phiền ḷng. Khi một sự
thực làm phiền ḷng th́ đó là một bằng chứng
rằng sự thực đó cần được nói ra.
Cuốn sách nhỏ bé này, nếu là một phân tích không nhân
nhượng về nước Việt và người
Việt th́ cũng không phải là một cuốn sách tiêu
cực, nó muốn được là một cuốn sách
của hy vọng và niềm tin.
Và tác giả thực sự hy vọng.
Sẽ
có nhiều độc giả nhận xét rằng cuốn
sách này có nhiều thiếu sót. Thiếu sót chắc chắn
là có và có nhiều, nhưng có hai loại: những
điều thực sự tác giả không nh́n thấy và
những điều tác giả thấy mà không nêu ra. Quan
niệm của tôi là không nhắc lại những ǵ ḿnh
nghĩ là đa số đă đồng ư đễ chỉ
tập trung thảo luận về những ǵ mà nhiều
người chưa đồng ư và nhất là những ǵ mà
đa số không chấp nhận. Tôi nghĩ nên cố
gắng đề nói ra những điều mới, và
nếu trong mười điều mới nói ra có tới
chín điều sai và chỉ một điều đúng th́
cũng c̣n có ích hơn là nói mười điều đúng
cả mười nhưng đều là những
điều đă biết. Khi không chấp nhận một ư
kiến, người ta hay cho rằng ư kiến đó là sai,
là dở. Nhiều độc giả sẽ thay nhiều
điều nói ra trong những trang sau là sai và đánh giá tác
giả là dở. Tôi chấp nhận sự kiện đó.
Tôi cho rằng nói ra những điều ḿnh nghĩ là
đúng dù biết rằng sẽ có nhiều người cho
là sai và đánh giá thấp ḿnh là một thái độ khiêm
tốn. Đó là cách khiêm tốn của tôi.
Cuốn
sách này đề tặng ba người: Hồ Qú, vợ
tôi, Hiền con trai tôi và Ḥa con gái tôi.
Hồ
Qú thực ra là đồng tác giả cuốn sách này.
Hồ Qú đă thảo luận với tôi vè mọi ư
kiến trong cuốn sách này, đă đọc lại,
sửa chữa và góp ư. Điều c̣n quan trọng hơn
nữa là Hồ Qú đă cho tôi niềm vui trong lúc viết.
Không những thế, tôi c̣n được vui vẻ
chấp nhận một ngân sách thua lỗ. Với kinh
nghiệm của những cuốn sách chính trị
đứng đắn đă phát hành, cả hai chúng tôi
đều không có một ảo tưởng nào vè
tương lai tài chánh của cuốn sách.
C̣n
về Hiền và Ḥa th́ đây chỉ là một sự công
bằng. Cuốn sách này là của chúng. Tôi không có may mắn
được dành toàn thời gian cho hoạt động
và nghiên cứu chính trị. Tôi có hoạt động
nghề nghiệp và hơn thế nữa có hoạt
động nghề nghiệp rất vất vả.
Cuốn sách này đă được viết và sửa
chữa trong thời gian mà bố mẹ chúng dáng lẽ
phải dành cho chúng.
Cuốn
sách này cũng đề tặng nhóm Thông Luận v́ lư do
cũng rất hiển nhiên. Thông Luận là tổ chức
chính trị duy nhất mà tôi tham gia từ 1982 tới nay.
Đó là gia đ́nh thứ hai của tôi. Tôi đă may mắn
gặp được ở đó một số đông
đảo các trí thức và chuyên gia hàng đầu, nặng
t́nh với đất nước. Sinh hoạt của Thông
Luận, đối với tôi và đối với mọi
người trong anh em chúng tôi, đă là cả một
cuộc mạo hiểm của trí tuệ. Tôi đă học
hỏi được rất nhiều điều ở
đó và có thề nói cuốn sách này xuất phát từ
đó. Nói như thế không có nghĩa là mọi
người trong nhóm Thông Luận đều đồng ư
với những ǵ tôi viết ra, mà chỉ có nghĩa là
nếu không có Thông Luận nội dung cuốn sách sẽ
khác đi nhiều. Anh em Thông Luận chúng tôi đồng ư
với nhau về mục tiêu tranh đấu cho một
thể chế dân chủ đa nguyên, trong tinh thần ḥa
giải và ḥa hợp dân tộc, bằng những
phương pháp bất bạo động; nhưng trong
nhiều điểm khác chúng tôi khác nhau. Thông Luận
chủ xướng đa nguyên và trước hết chúng
tôi áp dụng chủ nghĩa đa nguyên trong nội bộ
của ḿnh. Kề từ đầu năm 2000, nhóm Thông
Luận đă có danh xưng chính thức là Tập Hợp
Dân Chủ Da Nguyên, nhưng v́ cuốn sách này đă
được bắt đầu viết từ vài năm
trước nên trong nhiều đoạn cụm từ nhóm
Thông Luận đă được dùng thay v́ Tập Hợp
Dân Chủ Da Nguyên. Cuốn sách này cũng đề tặng
ba người đă mất. Lê Văn Đằng, Vũ
Tiến Đạt và Nguyễn Hoàng Quốc Phái.
Đằng và Đạt là bạn, Quốc Phái là con gái
đầu ḷng của tôi.
Sáng
thứ bảy
Đằng
cùng tuổi với tôi, đậu tú tài cùng một năm
với tôi và đi du học cùng một chuyến máy bay
với tôi, rồi cùng về nước phục vụ
trong cùng khoảng thời gian với tôi. Từ ngày gặp
nhau chúng tôi vừa là chí hữu vừa là anh em. Đằng
không phải là người bạn mà c̣n là một phần
của con người và trí tuệ của tôi. Đằng
mồ côi cha từ năm ba tuổi, rồi mồ côi
cả cha lẫn mẹ từ năm sáu tuổi, sống
nhờ sự nuôi dưỡng và thương yêu của các
anh chị rất nghèo. Lúc mới tới Pháp, Đằng
không có cả áo lạnh, phải lấy dầu cù-là thoa khắp
cả người chống rét. Đằng xuất sắc
về toán, đậu thủ khoa kỳ thi tuyển vào
Đại Học Sư Phạm ban toán, nhưng khi
được học bổng đi Pháp lại chọn
học kinh tế tài chánh và cũng thành công mỹ măn.
Về Sài G̣n làm cố vấn tổng trưởng tài chánh,
Đằng vẫn cố dành th́ giờ đề đi
dạy đại học. Cuộc đời của
Đằng chỉ có cố gắng và phấn đấu.
Đằng
không những là chuyên gia kinh tế xuất sắc nhiều
người, trong đó có tôi, coi Đằng là chuyên gia kinh
tế tài chánh lỗi lạc nhất của Việt
Tối
hôm Đằng chết, khi đi thăm xác Đằng
về, vợ tôi ngồi khóc và nói với tôi: Rồi anh
sẽ ra sao đây? Anh sẽ chẳng bao giờ t́m
được một người bạn như thế
nữa.
Ngày
4-11-1961, ngày tôi rời Việt Nam đi du học đề
gặp Đằng trong chuyến máy bay và kết nghĩa
anh em, cũng là ngày tôi nh́n Vũ Tiến Đạt lần
cuối. Đạt ra tiễn tôi tại phi trường
hôm đó. Đạt cũng đậu tú tài năm đó
nhưng không đi du học. Tôi quen Đạt không lâu
trước đó, nhưng Đạt đề lại
trong tôi một ấn tượng cực mạnh. Tôi có
một nhóm bạn cùng lứa tuổi họp nhau đề
bàn chuyện đất nước. Hoạt động
chính trị duy nhất của chúng tôi là vận động
cho liên danh Hồ Nhật Tân - Nguyễn Thế Truyền
trong cuộc tranh cử tổng thống với Ngô Đ́nh
Diệm năm 1961. Rồi một hôm một người
bạn đem Đạt tới. Đạt không giống
ai. Hắn có bản năng và lối phát biểu mạnh
mẽ một cách lạ lùng. Hắn đă đọc và
thuộc vô số lư thuyết và phương pháp hoạt
động chính trị. Hắn quả quyết một cách
đáng sợ. Đạt không giấu ai ư định
của hắn là muốn làm tổng thống Việt
Trong
trại cải tạo, sau ngày
Lúc
đó tôi cũng đang ở tù.
Khi
ở tù ra, sau hơn ba năm, tôi đă khóc rất nhiều
trên mộ Quốc Phái, con gái duy nhất của tôi, chết
trong lúc cả cha mẹ nó đang bị giam giữ. Lúc
đó Quốc Phái mới được sáu tháng. Tôi tự
hỏi tại sao tôi có thề khóc lâu như thế và tôi
hiểu rằng tôi sẽ khóc cho đứa bé này ngay cả
nếu nó không phải là con tôi. Tôi khóc cho một đứa
bé gái duy nhất, xinh đẹp của một kỹ sư
và một bác sĩ, một đứa bé mà cuộc
đời đă hứa cho tất cả, nhưng đă
chết như một đứa trẻ mồ côi cả
cha lẫn mẹ và được chôn cất sơ sài trong
một nghĩa trang tiều tụy. Tôi khóc cho nạn nhân vô
tội nhất của cuộc chiến này. Tôi chợt
hiểu rằng tôi không thề bỏ cuộc. Nếu tôi
không v́ đất nước quyết định hồi
hương th́ Quốc Phái đă sinh ra ở Pari, sẽ
lớn lên trong t́nh yêu và hạnh phúc, sẽ thành công mỹ
măn. Tôi cần một thắng lợi đễ làm quà
tặng và xin lỗi Quốc Phái và thắng lợi đó
phải thực quảng đại, xứng đáng
với Quốc Phái và xứng đáng với nỗi đau
không bao giờ nguôi trong tôi.
Trong
thứ tự những người được
đề tặng, độc giả có thề hỏi
tại sao tôi không đề những người đă chết
trước những người c̣n sống ? Lư do là v́
mặc dầu những t́nh cảm vô cùng tha thiết và vô
cùng sâu đậm với người đă khuất,
sự sống vẫn phải đi trước. Cuốn
sách này muốn được là cuốn sách của hy
vọng, viết cho những con người của
đất nước hôm nay và ngày mai.
Tôi
phải cám ơn trước hết toàn bộ các chí
hữu trong gia đ́nh Thông Luận, nơi kiến thức
và nhận thức của tôi đă h́nh thành nhờ nhưng
cuộc thảo luận và trao đỏi và cũng đă
một phần nào được thử nghiệm qua hành
động.
Một
ḷng biết ơn xâu xa xin được gởi tới
những bậc thầy đă uốn nắn cách suy nghĩ
của tôi. Các giáo sư Vũ Khắc Khoan, Lê Ngọc
Huỳnh, Nguyễn Xuân Kỳ, hiện nay không c̣n nữa. Một
lời tưởng nhớ cũng xin được
gởi đến cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy,
một người bạn thân và một người anh
lớn đă chỉ dạy cho tôi rất nhiều khi
mới hoạt động chính trị, rất tiếc là
ông đă mất trước khi chúng tôi có thể sát cánh
với nhau trong cùng một tổ chức. Dĩ nhiên tôi
không thề không nhắc tới thân phụ tôi, người
thày đầu tiên của tôi, đă tạo ra tôi cả xác
lẫn hồn và mẹ tôi, người đă cho tôi bài
học quí giá nhất : đấu tranh chính trị
trước hết là bằng trái tim.
Đoàn
Xuân Kiên, Vơ Xuân Minh và Diệp Tường Bảo đă
đọc lại và góp ư.
Lời
cảm tạ sau cùng nhưng đặc biệt nhất xin
dành cho Nguyễn Văn Huy, người đă thúc giục tôi
viết cuốn sách này. Huy là tiến sĩ về dân
tộc học và giảng dạy về môn dân tộc
học vùng Đông
2. Ghi chú về tài liệu tham
khảo và bố cục
Cuốn sách này là một cuốn sách đề
thảo luận ư kiến, với mục đích chỉ
đè xướng ra mà không kết thúc các cuộc thảo
luận. V́ thế tác giả, do thời giờ eo hẹp,
đă tự cho phép bỏ qua phần chú thích sau mỗi
chương. Sự thiếu sót này là do điều kiện
biên soạn cuốn sách: tác giả, v́ không thề dành
một khoảng thời gian liên tục đề viết,
đă phải lập trước một bố cục, sau
đó viết dần dần từng chương một
trong ṿng bốn năm, trung b́nh mỗi ngày một vài
giờ, đôi khi trên xe lửa hoặc máy bay. Cách viết
như vậy không cho phép ghi chú tỉ mỉ những tài
liệu trích dẫn. Bù lại, những trích dẫn quan
trọng đă được ghi ngay trong các bài viết,
như độc giả có thề nhận xét. V́ là một
cuốn sách ư kiến, và hơn nữa ư kiến cá nhân, nên
việc liệt kê tài liệu lại càng khó. Tác giả
viết với kiến thức và suy tư cá nhân của
ḿnh cho nên nếu muốn liệt kê hết các tài liệu
đă ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp
lên cuốn sách th́ có lẽ phải liệt kê hết tủ
sách của ḿnh. Điều này không phải chỉ khó mà c̣n
không thể làm được v́, một mặt, có
những tài liệu, như báo chí, tác giả đă tự ư
hủy bỏ v́ không có chỗ lưu giữ và, mặt khác,
có những biến cố đă khiến tác giả
nhiều lần mất tất cả hay gần hết
tủ sách. Trong những trích dẫn về Khổng Giáo, tác
giả sử dụng bản Luận Ngữ do Nguyễn
Hiến Lê biên soạn và nhà xuất bản Văn Nghệ
(Nam Cali, Mỹ) phát hành, có đối chiếu với các
bản nghiên cứu Luận Ngữ bằng tiếng Pháp
của Bùi Đức Tín (Pierre Gastine) và Anne Cheng. ở
đây xin lưu ư độc giả là tác giả không
đồng ư với phần lớn những giải thích
về Khổng Giáo và Khổng Tử trong các lác phẩm này.
Theo tác giả, Luận Ngữ và Khổng Tử cần
được hiểu theo bối cảnh xă hội Trung
Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc trong khi các tác
phẩm nói trên thường vô t́nh giải thích theo những
quan niệm về Nho Giáo được h́nh thành rất lâu
sau giai đoạn này. Phần lớn các số liệu về
thế giới được lấy từ những
nguồn tài liệu được cập nhật hóa hàng
năm sau đây:
― Encyclopedia Universalis (Encyclopedia Universalis,
Paris),
― Etat du Monde (Edition de la Découverte, Paris),
― Bilan Economique ét Social (của nhật báo Le
Monde, Pháp),
― The World
Almanac (Houghton, Miftline Company, Hoa Kỳ),
The World Bank anual Report (do Ngân Hàng Thế Giới phát hành hàng
năm). V́ Tổ Quốc An Năn là
một cuốn sách để thảo luận về ư
kiến nên tác giả đă ít dùng những tài liệu
thống kê. Các số liệu được đưa ra
thường là những con số có ư nghĩa quan trọng
đặc biệt v́ thế độc giả có thề
tin là chúng đă được kiểm chứng một cách
thận trọng.
Về bố cục, cuốn sách này gồm năm phần.
Mỗi phần gồm một số chương, trong cùng
một chủ đề. Độc giả ít thời
giờ có thề đọc từng chương một
cách độc lập với nhau, nhưng cách đọc
đúng nhất vẫn là đọc theo thứ tự
của cuốn sách v́ trong mỗi chương tác giả coi
như độc giả đă nắm được ư
của phần trước. Tuy được viết
thành những chương ngắn nhưng Tổ Quốc
Ăn
3. Sơn hà gấm vóc
Tôi c̣n nhớ một bài thơ học thuộc
ḷng lúc ở lớp Nhất tiểu học, không biết
của tác giả nào:
Trên dải đất chạy ven bờ biển
cả
Dưới trời Đông
Một giống người nhỏ bé nhưng
tinh anh
Đă xây đắp một sơn hà gấm vóc...
Trong trí óc non yếu của tôi, nước
Việt
Dĩ nhiên họ phát biểu v́ hoàn cảnh.
Họ thua trận, họ vào tù, họ phải mạt sát
chế độ Việt Nam Cộng Ḥa và đế
quốc Mỹ đề mong được khoan hồng.
Nhưng những điều họ nói về tài nguyên
đất nước là thành thực. Họ tin như
thế. Tôi hỏi anh sĩ quan đă nói về mỏ uranium
ở Khe Sanh th́ anh ta không có một dữ kiện nào cụ
thề cả, nhưng anh ta tin như thế và tin chắc
như đinh đóng cột.
Không hiểu v́ lư do nào mà hầu hết mọi
người Việt
Sự yên tâm này không những chỉ tai hại mà
c̣n làm chết người. Đó là tâm lư ngự trị
trong đầu óc những người lănh đạo
đảng cộng sản. Năm 1945 họ thực
hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến, họ đập
phá tất cả các thành phố, đường bộ,
đường sắt. Trong chiến tranh họ không bao
giờ lưỡng lự khi phá hoại bất cứ
một công tŕnh nào. Một bài t́nh ca yêu nước của
người cộng sản có hai câu:
Em đi phá lộ Đông Dương,.
Anh về đánh bốt Mỹ Lương,
Đông Hà.
(Đánh bốt có nghĩa là đánh đồn.
Trẻ em thường hát sai thành đánh đốt).
Thơ mộng quá! C̣n ông Hồ Chí Minh? ông phát biểu
quyết tâm chinh phục miền
Nếu ngược lại ta ư thức rằng đất
nước ta nhỏ bé chật hẹp, tài nguyên của ta
ít ỏi, có lẽ ta sẽ hành xử rất khác. Ta sẽ
quí từng con đường nhỏ, từng cây cầu,
từng dăy phố, từng căn nhà. Chúng ta sẽ tránh
được những phí phạm và những cuộc
chiến tranh làm chết hàng triệu người và tàn phá
đất nước.
Mà sự thực ta có ǵ đâu?
Mỏ quan trọng nhất trong đất
liền của ta là than đá anthracite với trữ
lượng 6 tỷ tấn. Sản lượng hàng năm
là 8 triệu tấn, nếu khai thác tối đa có thể
đạt tới 20 triệu tấn. Có nên khai thác tối
đa hay không lại là một vấn đề khác.
Nhưng ngay cả như thế sản lượng than dá
của ta cũng chỉ bằng ba phần ngàn sản
lượng hàng năm của thế giới, thua xa Cao Ly
(77 triệu tấn), Ba Lan (150 triệu tấn), Đức
(77 triệu tấn), Anh (93 triệu tấn). Đó chỉ
là để kể một vài nước có diện tích
tương đương hay nhỏ hơn nước ta.
Và tất cả những nước này c̣n nhiều tài
nguyên phong phú khác mà ta không có. Mỏ sắt của ta,
được kể như một tài nguyên lớn,
chỉ có trữ lượng tổng cộng 540 triệu
tấn - nghĩa là rất khiêm nhường, tương
đương với sáu tháng sản xuất trên thế
giới -, đă thế lại phân tán ra trên 200 mỏ, cho
nên không thể khai thác qui mô được. Các mỏ khác
của ta đều không đáng kể. Thí dụ như
nickel, một trong những tài nguyên được coi là quan
trọng của ta chỉ có một trữ lượng tổng
cộng cho các mỏ là 3 triệu tấn, nhưng phần
lớn lại pha lẫn trong chrome, ở Cổ
Định (Thanh Hóa), tương đương với
một năm sản xuất của ḥn đảo nhỏ
xíu Nouvelle Calédonie.
Ngoài ra ta có hai mỏ khác có triển vọng khá là
mỏ chrome ở Thanh Hóa (trữ lượng 21 triệu
tấn) và mỏ apathite ở Lào Cai (trữ lượng
công nghiệp 135 triệu tấn). Từ vài năm gần
đây, Việt
Trữ lượng của ta, theo những
ước đoán lạc quan, không bao nhiêu, chỉ vào
khoảng 400 triệu tấn (thế giới: 400 tỷ
tấn). Sản lượng dầu lửa hợp lư
của ta sau này chỉ có thể đạt tới mức
tối đa 15 triệu tấn mỗi nam, nghĩa là
tương đương với một tuần lễ
sản xuất của Mỹ, hoặc Nga, hoặc Saudi
Arabia, trừ khi ta áp dụng chính sách ăn xổi ở
th́, khai thác cho hết thực nhanh chóng và bất chấp
tương lai. Trong trường hợp này những
đầu tư thiết bị vào dầu lửa sẽ
thành vô dụng sau một thời gian ngắn. Mặt khác,
nhu cầu năng lượng của ta sẽ tăng lên
mau chóng (ít ra ta phải hy vọng như vậy) cùng với
đà phát triển, và các mỏ dầu chỉ giúp ta
giảm nhẹ hóa đơn dầu nhập cảng mà thôi.
Khí đốt hy vọng mới của Việt
Tài nguyên đă giới hạn như thế hiện nay chúng
ta lại rất nghèo, rất lạc hậu, rất thua
kém. Liệu chúng ta có một tương lai nào không? Và
nếu muốn có th́ phải làm thế nào? Hăy khoan trả
lời những câu hỏi đó. Nhưng ngay tại đây
ta có thể nói rằng ư thức được hoàn
cảnh khó khăn của ḿnh tự nó cũng đă là
một hành trang quí báu, bởi v́ nó cho ta một cách ứng
xử đúng đắn, nó đem lại cho ta một thái
độ lo lắng và thận trọng trong việc
dựng nước, nó giúp ta ư thức được
sự cần thiết của cố gắng .
4. Rất đượm hương
và rộn tiếng chim
Không biết ông Tố Hữu có phải là nhà
thơ theo đúng nghĩa của một nhà thơ không.
Nhưng ông có tài làm thơ, hiểu theo nghĩa những câu
ngắn có vần ở cuối, và tài làm thơ đă góp
phần quyết định đưa ông lên gần
tới tột đỉnh của danh vọng và quyền
lực. ông biết dùng những h́nh ảnh rất
đẹp và giản dị ngay cả khi đề
diễn tả những t́nh cảm giả tạo với những
mục đích rất thực tiễn. Như khi ông dùng h́nh
ảnh đứa bé tập nói để ca tụng Stahn,
hay khi ông dùng h́nh ảnh một người con ân cần
nắm tay cha để nịnh Hồ Chí Minh. Bài thơ
Từ ấy của ông được người
cộng sản ca tụng như một bài thơ hay.
Nó bắt đầu như sau:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lư chiếu qua tim
Hon tôi là một vườn xanh lá
Rất đượm hương và rộn
tiếng chim.
Qua những câu thơ này, ông Tố Hữu
muốn diễn tả nỗi hân hoan của ông khi t́m ra chân
lư Mác-Lênin và dấn thân tranh đấu trong Đảng
Cộng Sản Việt
ông Tố Hữu đă tranh đấu và đă
thành công. Lư tưởng của ông đă đạt
được. Con đường thắng lợi của
đảng ông đă đi qua hàng triệu xác chết.
Để đi đến kết quả nào?
Trong mùa hè 1992, một người bạn Pháp, sau
chuyến đi công tác một tháng tại Việt
Anh ta có nhiều chuyện quan trọng hơn
đề nói cho tôi nghe và tôi cũng có nhiều chuyện
để hỏi anh ta; những số liệu, những
cuộc gặp gỡ, những nhân vật đă tiếp
xúc, nhận định, cảm tưởng v.v. Và tôi không
lưu ư tới chi tiết này.
ít lâu sau, lại một người bạn khác,
hay đi về Việt
Trong mùa hè 1993, nhiều anh em trong nhóm Thông Luận về
thăm nhà. Tôi dặn mọi người đễ ư xem
Việt
Cà Mau trước đây có một rừng c̣
lớn, có rất nhiều loại c̣, nhiều đến
nỗi có nhưng người chuyên đi vào rừng
lượm trứng c̣ và mỗi ngày lượm
được cả rổ đem ra chợ bán. Tôi dặn
một người bạn nhớ viếng khu rừng c̣
đó và anh ta cho tôi hay khu rừng c̣ chỉ c̣n rất ít c̣
ít một cách không đáng kể. Thế là cuộc cách
mạng của ông Tố Hữu thành công và Việt
C̣n màu xanh của lá?
Những người qua lại Việt
Đất nước ta đă chật hẹp, đă không
có tài nguyên thiên nhiên, c̣n bị phá hủy và trở thành
cằn cỗi. Không c̣n rừng xanh và bặt tiếng chim!
Ngày xưa, Nguyễn Trăi kể tội quân Minh tàn phá
nước ta: Tàn hại cả côn trùng thảo mộc? Quân
Minh không phải là người Việt
Tuy vậy Tunisie vẫn c̣n chim, mắt tôi đă nh́n thấy
nhiều đàn chim. Việt
5. Sơn xuyên chi cương vực
kư thù
Nguyễn Trăi (1380-1442) mở đầu bài B́nh Ngô
Đại Cáo như sau:
Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân,
Điếu phạt vi sư mạc tiên khử
bạo.
Như nói chuyện Đại Việt chi
quốc,
Thực vi văn hiến chi bằng,
Sơn xuyên chi cương vực kư thù,
Bắc
Trong Việt nam Sử lược, học giả
Trần Trọng Kim cung cấp một bản dịch mà
nhiều người nói là của cụ Bùi Kỷ: Việc
nhân nghĩa cốt yên dân, quân điếu phạt chỉ v́
khử bạo. Như nước Việt ta từ
trước, vốn xưng nền văn hiến đă
lâu. Sơn hà cương vực đă chia, phong tục
Bắc
Chính trị chuyên mưu t́m ḥa b́nh, chiến tranh chỉ là
để khử trừ bạo ngược. Nước
Việt nam là một nước văn hiến, lănh thổ
có núi ngăn chia, phong tục Bắc
Các đạo quân xâm lăng phải vượt qua
những đường ṃn chật hẹp dài cả
trăm cây số nên vận tải lương thực rát
khó khăn, và làm mồi ngon cho các cuộc phục kích.
Muốn xâm nhập nước ta, quân Trung Quốc
thường phải đi đường biển
đổ bộ xuống vùng Nghệ An, rất xa địa
điểm xuất phát xét theo phương tiện di
chuyển ngày xưa, hay cửa Bạch Đằng, tuy
gần hơn nhưng vẫn c̣n phải đi một
chặng đường hiểm trở đề tiến
về Hà Nội. Nhờ thường xuyên đánh thắng
quân xâm lăng phương Bắc, chúng ta thường
tự hào về sức sống mănh liệt của dân
tộc, mà ít khi chịu khiêm tốn đề nh́n nhận
rằng sự tồn tại của nước ta chỉ
được bảo đảm nhờ vách núi dày
đặc và hiểm trở. Nhiều nhà lư luận
nặng đầu óc dân tộc đă biện bạch
rằng dân ta đứng vững được nhờ có
một nếp sống riêng, một nền văn hóa dân
tộc cao, một tinh thần dân tộc cao và một tinh
thần chiến đấu đặc biệt kiên
cường. Những yếu
tố đó đều đúng nhưng chỉ đúng
một phần mà thôi. Ta đă phóng đại và huênh hoang
quá đáng. Thực ra tinh thần dân tộc của ta không
lấy ǵ làm mạnh và khả năng chiến đấu
của ta tuy khá nhưng không thể nói là phi thường.
Về văn hóa, ta đă bắt chước người
Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu
văn hóa của ta vẫn c̣n khác văn hóa Tàu th́ cũng
chỉ v́ ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa
ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực
sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác
biệt ở tŕnh độ nhiều hơn là ở
bản chất. Sau này khi lệ thuộc người Pháp,
chúng tà cũng đă mê mải chạy theo văn hóa Pháp.
Nhiều người c̣n muốn quên hẳn gốc gác
Việt nam.
Những người vong bản này không hẳn là những
người phản quốc, ngay cả phản quốc
hiểu theo nghĩa cộng sản. Năm 1980, tôi có
dịp nghe một bài nói chuyện của ông Phạm Văn
Đồng, lúc đó là chủ tịch Hội Đồng
Bộ Trưởng nước Cộng Ḥa Xă Hội
Chủ Nghĩa Việt nam. Ông Phạm Văn Đồng là
một trong những người lănh đạo chủ
chốt của cuộc chiến tranh cam go chống Pháp
kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên
Phủ. Ông Đồng là người đă giữ chức
vụ thủ tướng lâu nhất tại Việt nam
trong gần 40 năm. Trong các lănh tụ cộng sản, ông
là người được các đảng viên kính
trọng nhất sau ông Hồ Chí Minh. Ông được coi
là lănh tụ cộng sản kỳ cựu có văn hóa cao.
Điều đặc biệt là ông Phạm Văn
Đồng, mặc dầu đảm nhiệm chức
vụ chính trị quan trọng đă tỏ ra đặc
biệt ưu tư tới tiếng Việt ông viết
một loạt bài dưới đề tựa Giữ ǵn sự
trong sáng của tiếng Việt. Và tôi đă nghe ông
Đồng nói những ǵ? Bài nói chuyện của ông có ít
nhất 20% là tiếng Pháp. Ông chêm tiếng Pháp bất
cứ lúc nào ông có thể chêm được. Có khi ông nói
cả những câu hoàn toàn bằng tiếng Pháp mà hầu
hết cử tọa không hiểu. Tôi hỏi một
người bạn đảng viên khá cao cấp đă
nhiều lần nghe ông Đồng thuyết tŕnh, anh ta cho
hay ông Đồng lúc nào cũng nói như vậy v́ ông
ấy học giỏi và quen miệng nói tiếng Pháp.
Thực ra bác sĩ Đặng Văn Hồ (mà tôi gọi
bằng chú do một liên hệ gia đ́nh gián tiếp),
bạn học của ông Đồng, cho tôi hay ông
Đồng chưa học hết trung học bản
xứ và đă từng nói với bác sĩ Đặng
Văn Hồ rằng: Mày đậu tú tài th́ học
tiếp tao không có tú tài th́ đi làm cách mạng. Như
thế vốn liếng tiếng Pháp của ông Đồng
tuy có thực nhưng không nặng đến nỗi sau
hơn một nửa thế kỷ đấu tranh
chống Pháp ông vẫn c̣n phải chêm tiếng Pháp luôn
miệng như vậy. Tôi học và sử dụng
tiếng Pháp nhiều hơn hẳn ông Đồng, tôi
cũng sinh sống tại đất Pháp lâu năm,
nhưng không có nhu cầu phải pha thêm tiếng Pháp trong
khi viết và nói tới mức độ như ông
Đồng. Ông Đồng chêm tiếng Pháp v́ ông thích
tiếng Pháp, cho rằng nói tiếng Tây là sang. Và ông nghĩ
như vậy, bởi v́ những người chung quanh ông
cũng nghĩ như vậy, người Việt nam
rất vọng ngoại về mặt văn hóa. Đă nói tới người
cộng sản th́ cũng phải nói đến
người quốc gia. Ông Nguyên Văn Thiệu tuy vốn
liếng tiếng Pháp chẳng hơn ǵ ông Đồng là
mấy nhưng cũng luôn miệng nói tiếng Pháp. Trong
biên lai mà ông kư cho tướng Trần Văn Đôn
đễ nhận một triệu đồng tiền
thưởng của t́nh báo Mỹ sau cuộc đảo
chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, ông
viết Bon pour 1.000.000 piastres. Một biên lai giữa
người Việt với nhau lại viết bằng
tiếng Pháp. Như thế mới sang. Trong thời gian làm
việc tại Ngân Hàng Việt nam Thương Tín và Bộ
Kinh Tế, tôi đă được đọc nhiều
hồ sơ. Hồ sơ nào hầu như cũng pha
tiếng Pháp, có hồ sơ hoàn toàn bằng tiếng Pháp.
Đó là sau khi Pháp đă ra đi gần 20 năm! Sức chiến đấu kiên
cường của ta cũng cần xét lại. Quả
thật ta đă có những chiến công hiển hách, nhưng
cũng có những lúc mà sức chiến đấu của
ta kể như không có. Bảy người lính Pháp đă có
thể vào chiếm tỉnh Ninh B́nh, bắt quan quân Việt
nam qú gối hạ khí giới. Vài trăm lính Pháp đă có
thể hạ được Thăng Long, đánh tan
nhiều ngàn quân Việt nam, một lần bắt sống
Nguyễn Tri Phương, một lần buộc Hoàng
Diệu phải tuẫn tiết. Hồ Quí Ly chuẩn
bị một đạo quân đông đảo và hùng
hậu dề đương đầu với quân Minh.
Nhưng chỉ một đạo quân nhỏ của
Trương Phụ đă đánh tan được toàn
bộ quân nhà Hồ và bắt sống Hồ Quí Ly trong
một thời gian chớp nhoáng. Vậy phải giải
thích thế nào những chiến công của ta? Quan sát
kỹ ta thấy người Việt nam có tâm lư sợ và
phục tùng uy quyền. Khi có những cấp chỉ huy
cứng cỏi, họ chiến đấu có hiệu
lực. Nhưng không nên vội đồng hóa tâm lư sợ
và phục tùng cấp trên với ư chí sẵn sàng chiến
đấu và chấp nhận hy sinh v́ đất
nước. Trong một đoạn khác tôi sẽ trở
lại vấn đề này. Tôi nói văn hóa đặc thù
của ta không có bao nhiêu, tinh thần dân tộc và khả
năng chiến đấu của ta chỉ giới
hạn hoàn toàn không phải nhằm mục tiêu hạ
nhục dân tộc ta. Để làm ǵ?
Tôi chỉ muốn lưu ư rằng khả năng tự
vệ của dân tộc ta thực ra chỉ vừa
phải, chúng ta đă tồn tại được chủ
yếu là nhờ có núi làm biên giới thiên nhiên. Ngày nay, trong
thế giới hiện đại này, núi không c̣n là mộc
che thân của ta nữa và biển lại là cửa vào xâm
nhập lư tưởng; sự xâm nhập không c̣n bằng
quân sự mà bằng văn hóa, kinh tế, thương
mại, sách báo, phim ảnh, âm nhạc. Ta phải hết
sức lo lắng để giữ nước v́ bài toán
giữ nước đă thay đổi hoàn toàn. Chúng ta không
c̣n trông vào núi được nữa. Muốn giữ
nước từ đây ta phải có khả năng tự
vệ thực sự, tinh thần dân tộc thực
sự, ḷng yêu nước thực sự.
Làm thế nào đề có những yếu tố đó
phải là ưu tư của mọi người quan tâm
tới đất nước.
6. Nước non ngh́n dặm
Người Việt nam nào h́nh như cũng
biết câu ca dao Nước non ngh́n dặm ra đi. Cụm
từ nước non ngh́n dặm cũng đă là
đầu đề của nhiều tác phẩm, và
được dùng trong vô số bài hát, bài thơ. Nó đă
làm cho nhiều người nghĩ đất nước
ta rộng răi, bao la. Sự thực th́ chúng ta rất
thiếu đất. Với 78 triệu người (năm
2000) trên một diện tích 330.000 km2, nghĩa là 237
người trên một kilômét vuông, chúng ta là một trong
những nước có mật độ cao ngất,
gần gấp đôi Trung Quốc (120 người / km2) và
xấp xỉ bằng ấn-độ (270 người /
km2), hai nước được coi là có nạn nhân măn
trầm trọng. Nhưng không phải chỉ có thế.
T́nh trạng thiếu đất thật ra c̣n trầm
trọng hơn nhiều. Nếu núi đă giúp ta giữ
nước, th́ núi và đồi cũng đă chiếm
mất của ta ba phần tư lănh thổ. Tại
miền Bắc và Bắc Trung Bộ, đồi và núi
chiếm hơn 80% lănh thổ. Tỷ lệ đất
đai canh tác được của ta không tới 25 %.
Nếu trừ đi thành phố, nhà cửa,
đường sá sông ng̣i th́ diện tích c̣n lại
để trồng lúa tối đa của ta không quá 7
triệu héc-ta. Nói đến thiếu đất
người ta nghĩ ngay đến hạn chế sinh
đẻ. Chính quyền hiện nay theo đuổi một
chính sách hạn chế sinh đẻ vừa rời rạc
vừa hung bạo. Trong truyện ngắn nỗi tiếng
Tướng về hưu, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
kể chuyện một vị tướng cộng sản
về hưu đă phải bỏ ra đi t́m lại
đơn vị cũ của ḿnh đề rồi thiệt
mạng v́ không thể chịu đựng được
cảnh cô con dâu, một bác sĩ sản khoa, đem
những thai nhi đă bị phá về nhà làm thức ăn
nuôi chó béc-giê kỹ nghệ. Trong cuộc Hội Luận Dân
Chủ Đa Nguyên tháng 10-1990, nhà nghiên cứu Đinh
Trọng Hiếu, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học
Pháp, vừa từ Việt nam sang sau một chuyến nghiên
cứu dài ba tháng về đời sống nông thôn, đă
lên diễn đàn mô tả lại cảnh mà ông đă nh́n
thấy, cảnh ba bốn phụ nữ bị bắt
buộc phá thai trong các trạm y tế. Họ nằm
trần truồng bên nhau, dạng cẳng cố trục
xuất thai nhi ra, sau khi đă nhận thuốc phá thai. V́
thiếu phương tiện, việc phá thai
được phối hợp giữa thuốc và các
biện pháp tay chân. Đinh Trọng Hiếu vừa kể
vừa khóc. Đọc báo trong nước, người ta
cũng vẫn thường gặp những bài nói về
các cán bộ, đảng viên bị phê b́nh, hay có khi bị
kỷ luật v́ có tới ba con. Nhưng mặc dầu
vậy, dân số nước ta vẫn tiếp tục gia
tăng xấp xỉ 2%, tức khoảng một triệu
rưỡi người mỗi năm. Các biện pháp
hạn chế dân số dă man đă chỉ làm xuống
cấp con người chứ không ngăn chặn
được nạn nhân măn. Có lẽ v́ con người
trở thành rẻ rúng mà chính quyền không c̣n quan tâm tới
sức khỏe. Sách báo không thầy đăng (hay có
đăng mà tôi không đọc được?) tỷ
lệ người chết hàng năm. Tôi t́m
được một cuốn sách địa lư trung
học (Địa lư lớp 9 - Nguyễn Trọng
Điều, Nhà xuất bản Giáo Dục, 1989) hai con
số: tỷ lệ người chết là 6,3 phần ngàn
năm 1979 và 6,95 phần ngàn năm 1986. Như thế có nghĩa
là trong ṿng 7 năm tỷ lệ người chết đă
tăng lên 10%. Năm 1986 là năm bắt đầu chính
sách mở cửa theo qui luật kinh tế thị
trường. Từ đó hệ thống y tế của
nước ta bị bỏ rơi và xuống cấp không
ngừng. Hiện nay, năm 2000, y tế của ta có thể
nói là đă sụp đổ hoàn toàn. Theo thống kê của
nhà nước, số trẻ em chết trước khi
được một tuổi đă tăng 10% trong năm
1998. Hạn chế đà gia
tăng dân số chắc chắn phải là ưu tư
lớn của bất cứ một chính quyền Việt
nam nào. Nhưng trước hết phải nh́n vấn đề
một cách đúng đắn, phải nhận định
rằng vấn đề sinh đẻ nhiều
trước hết là một vấn đề văn hóa,
xă hội và nhân sinh quan chứ không phải là một
vấn đề thuần túy kinh tế, và do đó không
thể giải quyết bằng những quyết
định hành chánh, duy ư chí chính quyền cộng sản
đă có một thái độ thiếu lương thiện
trên vấn đề này. Trước năm 1975,
đảng cộng sản hoàn toàn không đặt ra
vấn đề hạn chế sinh đẻ. Lúc đi
cải tạo sau ngày
Vấn đề thực sự đề
giải quyết nạn đất hẹp người
đông là phải thay đổi chức năng của
đất nước từ một nước nông
nghiệp sang một nước công nghiệp. Trong dài
hạn, nông nghiệp của Việt nam chỉ có thể
đảm bảo đời sống xứng đáng cho
khoảng 10 triệu người, trong khi chúng ta sắp có
80 triệu dân. Phần c̣n lại phải chuyển sang công
nghiệp và dịch vụ. Cuộc chuyển hóa này sẽ
phải được coi là cố gắng vĩ
đại nhất v́ từ ngày lập quốc và sẽ
chỉ có thể giải quyết bằng một cố
gắng liên tục trong nhiều thập niên. Ngay từ bây
giờ những người làm chính sách phải luôn luôn có trong
đầu viễn ảnh này.
Cho tới nay, chính quyền cộng sản luôn
luôn có một chính sách cư trú mâu thuẫn. Đại
hội IV của đảng cộng sản (năm 1976)
chủ trương tiến lên sản xuất công
nghiệp lớn xă hội chủ nghĩa nhưng
đồng thời đảng lại thi hành chính sách
đuổi dân ra khỏi thành phố, đưa dân về
nông thôn hay đi các vùng kinh tế mới. Cho đến ngay
bây giờ chuyển hộ khẩu về miền quê
vẫn là chuyện dễ đàng, ngược lại
chuyền hộ khẩu từ nông thôn ra thành phố
vẫn là chuyện đội đá vá trời. Nông thôn
Việt nam từ lâu đă dư người rồi và càng
ngày càng dư người hơn nữa. Thêm người
ở nông thôn chỉ có tác dụng chuyển sự nghèo
khổ từ thành thị về nông thôn, cho khuất
mắt các vị lănh đạo chứ không giải
quyết được ǵ cả. Không những không
giải quyết được ǵ cả mà c̣n làm giảm
năng suất nông nghiệp. Đông người quá th́
không thể cơ giới hóa và c̣n phải hạ thấp
mức cơ giới hóa đề sử dụng lao
động dư thừa, mà đă không cơ giới hóa th́
năng suất dĩ nhiên là thấp. Năng suất trung
b́nh của ngành trồng lúa chỉ là 3,5 tấn hàng năm
cho một héc-ta trong khi ruộng đất Việt nam có
thể đạt năng suất 6 tấn.
7. Ḷng mẹ bao la như biển Thái
B́nh
Trong cuộc chuyển hóa vĩ đại từ
một nước nông nghiệp sang một nước công
nghiệp và dịch vụ chúng ta gặp một trở
ngại lớn: khí hậu. Chúng ta là một nước
nhiệt đới, gần như nóng quanh năm, nhất
là ở miền
Khí hậu nóng làm cho con người uể
oải, thiếu quyết tâm và mất kiên nhẫn. Các
nước phát triển mạnh thường không phải
là những nước nhiệt đới.
Dầu sao th́ khí hậu nóng cũng vẫn là
một trở ngại lớn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu
cũng đồng ư các vùng bờ biển phát triển
mạnh hơn các vùng lục địa. Biển là kho tàng
hải sản vô tận, là sự nới rộng của
bờ cơi, và, quan trọng hơn hết, là khả năng
giao thông vận tải quan trọng và quí giá vô cùng.
Khi vừa mới tốt nghiệp kỹ sư,
tôi làm việc cho hăng Pechiney, công ty đứng hàng thứ
nh́ thế giới và thứ nhất tại châu Âu vào
đầu thập niên 1970 về kỹ nghệ nhôm. Pechiney
nhập cảng quặng nhôm từ úc và châu Phi. Nhà máy
luyện nhôm nơi tôi làm việc nằm ở trung tâm
nước Pháp, cách cảng Marseille chừng 400 km. Chi phí
chuyên chở bằng đường biền từ úc
tới Marseille gần 20.000 km, nhẹ hơn chi phí chuyên
chở 400 km đường sắt từ Marseille
đến nhà máy.
Ưu thế bờ biển - lục địa
quan trọng không kém ưu thế lạnh - nóng. Người
ta có thể quan sát rằng từ hai mươi năm nay
tại Trung Quốc, vùng duyên hải đă phát triển
vượt hẳn vùng lục địa. Ưu thế
của bờ biển càng rơ nét trong trường hợp
Trung Quốc nếu người ta nhớ lại rằng
trong thập niên 1950 Mao Trạch Đông đă cho thi hành
kế hoạch đệ tam tuyến, chuyển hết
kỹ nghệ vào lục địa đề pḥng ngừa
một cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ. Kế
hoạch này đă biến Trùng Khánh thành thành phố đông
dân nhất Trung Quốc, nó đă làm phá sản các vùng bờ
biển.
Biển cũng làm cho khí h