Tổ quốc ăn năn

» Tác giả: Nguyễn Gia Kiểng
» Dịch giả:
» Thể lọai: Văn Học Nghệ Thuật
» Số lần xem: 341

 

1. Lời đầu

Nguyễn Gia Kiểng

 

Lời đầu

 

Tôi sang Pháp du học năm 1961, lúc 19 tuổi. Là đứa con của đồng quê Việt Nam, tôi được nuôi dưỡng lúc ban đầu bằng h́nh ảnh cánh đồng, lũy tre, bờ ruộng, con c̣, bằng những câu ca dao: bầu ơi thương lấy bí cùng... ta về ta tắm ao ta, v.v... Lớn lên một chút nữa, bằng những bài học quốc văn giáo khoa thư, truyện Phạm Công Cúc Hoa, truyện Lưu B́nh - Dương Lễ, truyện Tấm Cám, truyện Phù Đồng Thiên Vương, truyện Thạch Sanh - Lư Thông. Khi chớm có nhận thức, bằng những trang sử oai hùng của dân tộc: Ngô Quyền phá quân Nam Hán, Lư Thường Kiệt phá Tống b́nh Chiêm, Trần Hưng Đạo phá quân Nguyên, Lê Lợi b́nh quân Minh, Quang Trung đại thắng quân Thanh; bằng những gương tuẫn quốc của Trần B́nh Trọng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Điều. Vinh dự nhất là sự hy sinh dũng liệt của Nguyễn Thái Học và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Vinh dự v́ trong trang sử này gia đ́nh tôi có góp phần hy sinh. Trí tuệ của tôi cũng được phần đào tạo bằng thơ văn Nguyễn Công Trứ, bằng Truyện Kiều, bằng tư tưởng Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, bằng B́nh Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trăi, bằng Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, bằng nhiều thơ văn ái quốc, kề cả những bài thơ của Đặng Phương - mà sau này tôi được biết là Nguyễn Ngọc Huy.  Tất cả cái vốn liếng tinh thần và văn hóa đó khiến tôi mang nặng một niềm tự hào dân tộc khi vừa tới Pháp. Trong thâm tâm, tôi tin rằng Việt Nam hơn Pháp, cũng như tôi đă tin Việt Nam hơn Trung Hoa. Nước Pháp chẳng qua chỉ có một nền văn minh vật chất, nhưng thua xa Việt Nam về văn hóa, tâm linh và sự thâm thúy. Nối chung Việt Nam hơn Pháp v́ phương Đông hơn phương Tây.

 

 Phương Đông là nền văn minh lâu đời về tư tưởng, đạo đức và văn hóa, phương Tây chẳng qua chỉ hơn nhất thời về khoa học và kỹ nghệ. Phương Đông có chiều sâu trong khi phương Tây chỉ có bề rộng. Phương Đông có bề trong, phương Tây chỉ có bề ngoài; phương Đông có hồn trong khi phương Tây chỉ có xác. Tôi c̣n nhớ đă nhiều lần tranh luận gay go với những bạn học người Pháp cũng đầy tự hào dân tộc như tôi.

 

 Sau một vài năm tôi thạo tiếng Pháp. Tôi ham đọc sách nên kiến thức vè lịch sử, chính trị, văn hóa Pháp c̣n có phần trội hơn cả nhiều bạn Pháp. Tôi tin là ḿnh đă hiểu rơ nước Pháp nói riêng và phương Tây nói chung.

 

Tất cả dần dần thay đỗi với thời gian. Càng sống với người Pháp, càng làm việc với họ và lại có dịp qua lại thường xuyên các nước châu Âu tôi càng khám phá ra rằng tôi chưa hiểu họ. Dần dần niềm tự hào dân tộc giảm đi, nhường chỗ cho một sự hoang mang và sau cùng là một sự chua xót và thẹn thùng vè sự thua kém của đất nước Việt Nam và con người Việt Nam. Tôi cũng dần dần có dịp tiếp xúc với người Mỹ và qua lại nước Mỹ. Có một nỗi đau càng ngày càng lớn trong tâm hồn tôi, nó đến một cách chậm chạp, lặng lẽ nhưng mănh liệt.
 Tôi nhận ra người châu Âu rất nhân bản, thâm thúy, đầy óc sáng tạo, nền văn minh của họ hơn hẳn nền văn minh của đất nước ta, văn hóa của họ vượt hẳn văn hóa của nước ta cả về lượng lẫn phẩm.

 

 Tôi tự hào về trống đ̣ng, về thành Cỗ Loa, về chùa Hương, về chùa Phổ Minh, vè các lăng tẩm ở Huế đề rồi phải xấu hỗ trước công tŕnh nghệ thuật nhiều gấp bội, cổ kính hơn nhiều lần, vĩ đại hơn nhiều lần và tinh xảo hơn nhiều lần mà tôi gặp được mỗi khi dừng chân ở bất cứ một địa điểm nào tại các nước châu Âu. Th́ ra tôi đă giống như một con ếch ngời đáy giếng.

 

Ngũ thập tri thiên mệnh. Năm mươi tuổi biết mệnh trời. Năm nay tôi đă ngoài 50 tuổi, không biết tôi đă tri thiên mệnh chưa, nhưng tôi đă khám phá ra một điều: đó là cái ǵ dù lạ lùng đến đâu cũng đều có một giải thích giản dị. Các nước phương Tây vượt trội bởi v́ văn hóa của họ lành mạnh, tâm lư của họ đúng đắn. Nước Việt Nam đau khổ và nghèo nàn bởi v́ văn hóa Việt Nam thui chột và tâm lư người Việt Nam bệnh hoạn. Điều đó dĩ nhiên chẳng có ǵ mới đối với bạn đọc và cũng chẳng có ǵ mới đối với tôi, chúng ta đă biết từ khá lâu rồi. Có điều cái biết bây giờ khác với cái biết của trước kia. Giữa hai sự hiểu biết đó có một khoảng cách, đó là kinh nghiệm. Kinh nghiệm là ǵ nếu không phải là sự khám phá lại những chân lư đơn giản và có ích? Nhưng kinh nghiệm không phải chỉ đem lại cho tôi sự chấp nhận thua kém, và niềm đau của sự thua kém đó. Nếu chỉ có thế th́ chẳng có ǵ để nói và cuốn sách này không có lư do ǵ đề đến với độc giả. Kinh nghiệm đó c̣n giúp tôi khám phá ra rằng Việt Nam có thể tiến lên, tiến xa và tiến cao. Với điều kiện là phải nghĩ lại ḿnh.

 

 Đó là lư do ra đời của cuốn sách khiêm nhường này.

 

 Xét lại ḿnh là một thao dượt có khi rất đau nhức, nhưng phải nh́n chân dung ḿnh ngay cả khi nó không đẹp. Tôi xin lỗi các độc giả mà những trang sau có thề làm phiền ḷng. Khi một sự thực làm phiền ḷng th́ đó là một bằng chứng rằng sự thực đó cần được nói ra. Cuốn sách nhỏ bé này, nếu là một phân tích không nhân nhượng về nước Việt và người Việt th́ cũng không phải là một cuốn sách tiêu cực, nó muốn được là một cuốn sách của hy vọng và niềm tin.
 Và tác giả thực sự hy vọng.

 

Sẽ có nhiều độc giả nhận xét rằng cuốn sách này có nhiều thiếu sót. Thiếu sót chắc chắn là có và có nhiều, nhưng có hai loại: những điều thực sự tác giả không nh́n thấy và những điều tác giả thấy mà không nêu ra. Quan niệm của tôi là không nhắc lại những ǵ ḿnh nghĩ là đa số đă đồng ư đễ chỉ tập trung thảo luận về những ǵ mà nhiều người chưa đồng ư và nhất là những ǵ mà đa số không chấp nhận. Tôi nghĩ nên cố gắng đề nói ra những điều mới, và nếu trong mười điều mới nói ra có tới chín điều sai và chỉ một điều đúng th́ cũng c̣n có ích hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng đều là những điều đă biết. Khi không chấp nhận một ư kiến, người ta hay cho rằng ư kiến đó là sai, là dở. Nhiều độc giả sẽ thay nhiều điều nói ra trong những trang sau là sai và đánh giá tác giả là dở. Tôi chấp nhận sự kiện đó. Tôi cho rằng nói ra những điều ḿnh nghĩ là đúng dù biết rằng sẽ có nhiều người cho là sai và đánh giá thấp ḿnh là một thái độ khiêm tốn. Đó là cách khiêm tốn của tôi.

 

 Cuốn sách này đề tặng ba người: Hồ Qú, vợ tôi, Hiền con trai tôi và Ḥa con gái tôi.

 

Hồ Qú thực ra là đồng tác giả cuốn sách này. Hồ Qú đă thảo luận với tôi vè mọi ư kiến trong cuốn sách này, đă đọc lại, sửa chữa và góp ư. Điều c̣n quan trọng hơn nữa là Hồ Qú đă cho tôi niềm vui trong lúc viết. Không những thế, tôi c̣n được vui vẻ chấp nhận một ngân sách thua lỗ. Với kinh nghiệm của những cuốn sách chính trị đứng đắn đă phát hành, cả hai chúng tôi đều không có một ảo tưởng nào vè tương lai tài chánh của cuốn sách.

 

C̣n về Hiền và Ḥa th́ đây chỉ là một sự công bằng. Cuốn sách này là của chúng. Tôi không có may mắn được dành toàn thời gian cho hoạt động và nghiên cứu chính trị. Tôi có hoạt động nghề nghiệp và hơn thế nữa có hoạt động nghề nghiệp rất vất vả. Cuốn sách này đă được viết và sửa chữa trong thời gian mà bố mẹ chúng dáng lẽ phải dành cho chúng.

 

Cuốn sách này cũng đề tặng nhóm Thông Luận v́ lư do cũng rất hiển nhiên. Thông Luận là tổ chức chính trị duy nhất mà tôi tham gia từ 1982 tới nay. Đó là gia đ́nh thứ hai của tôi. Tôi đă may mắn gặp được ở đó một số đông đảo các trí thức và chuyên gia hàng đầu, nặng t́nh với đất nước. Sinh hoạt của Thông Luận, đối với tôi và đối với mọi người trong anh em chúng tôi, đă là cả một cuộc mạo hiểm của trí tuệ. Tôi đă học hỏi được rất nhiều điều ở đó và có thề nói cuốn sách này xuất phát từ đó. Nói như thế không có nghĩa là mọi người trong nhóm Thông Luận đều đồng ư với những ǵ tôi viết ra, mà chỉ có nghĩa là nếu không có Thông Luận nội dung cuốn sách sẽ khác đi nhiều. Anh em Thông Luận chúng tôi đồng ư với nhau về mục tiêu tranh đấu cho một thể chế dân chủ đa nguyên, trong tinh thần ḥa giải và ḥa hợp dân tộc, bằng những phương pháp bất bạo động; nhưng trong nhiều điểm khác chúng tôi khác nhau. Thông Luận chủ xướng đa nguyên và trước hết chúng tôi áp dụng chủ nghĩa đa nguyên trong nội bộ của ḿnh. Kề từ đầu năm 2000, nhóm Thông Luận đă có danh xưng chính thức là Tập Hợp Dân Chủ Da Nguyên, nhưng v́ cuốn sách này đă được bắt đầu viết từ vài năm trước nên trong nhiều đoạn cụm từ nhóm Thông Luận đă được dùng thay v́ Tập Hợp Dân Chủ Da Nguyên. Cuốn sách này cũng đề tặng ba người đă mất. Lê Văn Đằng, Vũ Tiến Đạt và Nguyễn Hoàng Quốc Phái. Đằng và Đạt là bạn, Quốc Phái là con gái đầu ḷng của tôi.

 

Sáng thứ bảy 4-5-1994 khi bảy người chúng tôi trong Ban Thường Trực của Thông Luận họp mặt trong pḥng họp riêng của tôi chúng tôi uống cà-phê, ăn sáng và thảo luận rất thoải mái. Ngoài việc giải quyết một số vấn đề thông thường của tổ chức Thông Luận, chúng tôi bàn kế hoạch ủng hộ Đoàn Viết Hoạt, đang chịu một hoàn cảnh giam cầm nghiệt ngă. Chúng tôi đều đồng ư rằng điều cấp bách nhất là làm thế nào đễ Đoàn Viết Hoạt đừng chết. Chúng tôi không hề nghĩ rằng một lát nữa một trong bảy người chúng tôi sẽ chết. Phiên họp vừa hết, Đằng muốn thêm một lời kết luận. Đang phát biểu, Đằng th́nh ĺnh ngừng lại, ngất xỉu và chết ngay sau đó.

 

 Đằng cùng tuổi với tôi, đậu tú tài cùng một năm với tôi và đi du học cùng một chuyến máy bay với tôi, rồi cùng về nước phục vụ trong cùng khoảng thời gian với tôi. Từ ngày gặp nhau chúng tôi vừa là chí hữu vừa là anh em. Đằng không phải là người bạn mà c̣n là một phần của con người và trí tuệ của tôi. Đằng mồ côi cha từ năm ba tuổi, rồi mồ côi cả cha lẫn mẹ từ năm sáu tuổi, sống nhờ sự nuôi dưỡng và thương yêu của các anh chị rất nghèo. Lúc mới tới Pháp, Đằng không có cả áo lạnh, phải lấy dầu cù-là thoa khắp cả người chống rét. Đằng xuất sắc về toán, đậu thủ khoa kỳ thi tuyển vào Đại Học Sư Phạm ban toán, nhưng khi được học bổng đi Pháp lại chọn học kinh tế tài chánh và cũng thành công mỹ măn. Về Sài G̣n làm cố vấn tổng trưởng tài chánh, Đằng vẫn cố dành th́ giờ đề đi dạy đại học. Cuộc đời của Đằng chỉ có cố gắng và phấn đấu.

 

Đằng không những là chuyên gia kinh tế xuất sắc nhiều người, trong đó có tôi, coi Đằng là chuyên gia kinh tế tài chánh lỗi lạc nhất của Việt Nam - mà c̣n rất đam mê chính trị. ở bên ngoài Đằng có vẻ là một người trầm mặc, ôn ḥa, nhưng trong nội bộ tổ chức Thông Luận chúng tôi, Đằng luôn luôn biểu quyết cho những lập trường táo bạo nhất. Có lẽ đó là cái bản chất của đứa con của đất miền Trung sỏi đá, nơi con người luôn luôn phải cứng cỏi và bướng bỉnh với thiên nhiên đề sống. Mối t́nh thân giữa chúng tôi đă bắt đầu từ đời trước. Thân phụ chúng tôi đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, cha của Đằng bị cộng sản giết chết, cha tôi may mắn thoát nạn. Cái gia phả chính trị đó đă gắn bó chặt chẽ chúng tôi với nhau. Tôi đă học hỏi ở Đằng rất nhiều, đến nỗi giờ này tôi không thề phân biệt được trong những kiến thức và nhận thức của tôi cái ǵ là của tôi cái ǵ là của Đằng.

 

Tối hôm Đằng chết, khi đi thăm xác Đằng về, vợ tôi ngồi khóc và nói với tôi: Rồi anh sẽ ra sao đây? Anh sẽ chẳng bao giờ t́m được một người bạn như thế nữa.

 

Ngày 4-11-1961, ngày tôi rời Việt Nam đi du học đề gặp Đằng trong chuyến máy bay và kết nghĩa anh em, cũng là ngày tôi nh́n Vũ Tiến Đạt lần cuối. Đạt ra tiễn tôi tại phi trường hôm đó. Đạt cũng đậu tú tài năm đó nhưng không đi du học. Tôi quen Đạt không lâu trước đó, nhưng Đạt đề lại trong tôi một ấn tượng cực mạnh. Tôi có một nhóm bạn cùng lứa tuổi họp nhau đề bàn chuyện đất nước. Hoạt động chính trị duy nhất của chúng tôi là vận động cho liên danh Hồ Nhật Tân - Nguyễn Thế Truyền trong cuộc tranh cử tổng thống với Ngô Đ́nh Diệm năm 1961. Rồi một hôm một người bạn đem Đạt tới. Đạt không giống ai. Hắn có bản năng và lối phát biểu mạnh mẽ một cách lạ lùng. Hắn đă đọc và thuộc vô số lư thuyết và phương pháp hoạt động chính trị. Hắn quả quyết một cách đáng sợ. Đạt không giấu ai ư định của hắn là muốn làm tổng thống Việt Nam sau này. Đấy là một cao vọng quá lớn và có thề là kềnh càng với một thanh niên 18 tuổi, nhưng Đạt trả giá cho tham vọng ấy một cách ṣng phẳng. Hắn cố gắng vượt bực và cư xử một cách hùng tráng. Đậu xong luật, Đạt đi lính, hắn nói không dám đi lính là hèn, và hơn thế nữa hắn cho rằng đi sĩ quan cũng không phải là can đảm v́ không nguy hiềm lắm. Hắn đi lính từ binh nh́, vào các đơn vị tác chiến, lên đại úy, rồi thi đậu khóa tuyền lựa tham vụ ngoại giao đầu năm 1975. Việc chuyển sang ngoại giao chắc chắn nằm trong kế hoạch trau dồi bản lănh của hắn. Điều tiếc nhất trong đời tôi là trong suốt thời gian ở Việt Nam sau khi từ Pháp vè tôi đă không gặp được hắn, hắn ít về Sài G̣n và về trong những lúc tôi bận chuyện khác. Hắn cũng chỉ về chớp nhoáng rồi lại đi ngay. Măi sau này tôi mới biết rằng hắn đă về bộ ngoại giao từ đầu năm 1975, nhưng lúc đó t́nh h́nh Việt Nam đă bắt đầu biến chuyển nhanh chóng khiến tôi không c̣n th́ giờ và tâm trí để t́m gặp các bạn cũ nữa.

 

Trong trại cải tạo, sau ngày 30-4-1975, Đạt hiên ngang thách thức, hắn không nhận tội, không xin khoan hồng, lúc nào cũng dơng dạc đ̣i một điều duy nhất: được cư xử như một tù binh theo công ước quốc tế. Hắn cũng kêu gọi đồng đội đừng ngă ḷng, phải giữ lấy khí phách và danh dự. Có lẽ hắn tự coi là một tổng thống và phải cư xử xứng đáng như một tổng thống. Một hôm hắn bị bắn chết trong lúc đi lao động, người ta bảo hắn định vượt trại. Điều này không ai kiểm chứng được.

 

Lúc đó tôi cũng đang ở tù.

 

Khi ở tù ra, sau hơn ba năm, tôi đă khóc rất nhiều trên mộ Quốc Phái, con gái duy nhất của tôi, chết trong lúc cả cha mẹ nó đang bị giam giữ. Lúc đó Quốc Phái mới được sáu tháng. Tôi tự hỏi tại sao tôi có thề khóc lâu như thế và tôi hiểu rằng tôi sẽ khóc cho đứa bé này ngay cả nếu nó không phải là con tôi. Tôi khóc cho một đứa bé gái duy nhất, xinh đẹp của một kỹ sư và một bác sĩ, một đứa bé mà cuộc đời đă hứa cho tất cả, nhưng đă chết như một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ và được chôn cất sơ sài trong một nghĩa trang tiều tụy. Tôi khóc cho nạn nhân vô tội nhất của cuộc chiến này. Tôi chợt hiểu rằng tôi không thề bỏ cuộc. Nếu tôi không v́ đất nước quyết định hồi hương th́ Quốc Phái đă sinh ra ở Pari, sẽ lớn lên trong t́nh yêu và hạnh phúc, sẽ thành công mỹ măn. Tôi cần một thắng lợi đễ làm quà tặng và xin lỗi Quốc Phái và thắng lợi đó phải thực quảng đại, xứng đáng với Quốc Phái và xứng đáng với nỗi đau không bao giờ nguôi trong tôi.

 

Trong thứ tự những người được đề tặng, độc giả có thề hỏi tại sao tôi không đề những người đă chết trước những người c̣n sống ? Lư do là v́ mặc dầu những t́nh cảm vô cùng tha thiết và vô cùng sâu đậm với người đă khuất, sự sống vẫn phải đi trước. Cuốn sách này muốn được là cuốn sách của hy vọng, viết cho những con người của đất nước hôm nay và ngày mai.

 

Tôi phải cám ơn trước hết toàn bộ các chí hữu trong gia đ́nh Thông Luận, nơi kiến thức và nhận thức của tôi đă h́nh thành nhờ nhưng cuộc thảo luận và trao đỏi và cũng đă một phần nào được thử nghiệm qua hành động.

 

Một ḷng biết ơn xâu xa xin được gởi tới những bậc thầy đă uốn nắn cách suy nghĩ của tôi. Các giáo sư Vũ Khắc Khoan, Lê Ngọc Huỳnh, Nguyễn Xuân Kỳ, hiện nay không c̣n nữa. Một lời tưởng nhớ cũng xin được gởi đến cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, một người bạn thân và một người anh lớn đă chỉ dạy cho tôi rất nhiều khi mới hoạt động chính trị, rất tiếc là ông đă mất trước khi chúng tôi có thể sát cánh với nhau trong cùng một tổ chức. Dĩ nhiên tôi không thề không nhắc tới thân phụ tôi, người thày đầu tiên của tôi, đă tạo ra tôi cả xác lẫn hồn và mẹ tôi, người đă cho tôi bài học quí giá nhất : đấu tranh chính trị trước hết là bằng trái tim.

 

Đoàn Xuân Kiên, Vơ Xuân Minh và Diệp Tường Bảo đă đọc lại và góp ư.

 

Lời cảm tạ sau cùng nhưng đặc biệt nhất xin dành cho Nguyễn Văn Huy, người đă thúc giục tôi viết cuốn sách này. Huy là tiến sĩ về dân tộc học và giảng dạy về môn dân tộc học vùng Đông Nam á tại Đại Học Paris 7. Huy rất say mê khảo cứu lịch sử Việt Nam và đă góp ư với tôi trong nhiều nhận định. Dù không chia sẻ hoàn toàn những ǵ tôi viết, Huy đă t́nh nguyện đọc lại, sửa chữa và thay tôi lo phần việc in ấn cuốn sách này.

2. Ghi chú về tài liệu tham khảo và bố cục

Cuốn sách này là một cuốn sách đề thảo luận ư kiến, với mục đích chỉ đè xướng ra mà không kết thúc các cuộc thảo luận. V́ thế tác giả, do thời giờ eo hẹp, đă tự cho phép bỏ qua phần chú thích sau mỗi chương. Sự thiếu sót này là do điều kiện biên soạn cuốn sách: tác giả, v́ không thề dành một khoảng thời gian liên tục đề viết, đă phải lập trước một bố cục, sau đó viết dần dần từng chương một trong ṿng bốn năm, trung b́nh mỗi ngày một vài giờ, đôi khi trên xe lửa hoặc máy bay. Cách viết như vậy không cho phép ghi chú tỉ mỉ những tài liệu trích dẫn. Bù lại, những trích dẫn quan trọng đă được ghi ngay trong các bài viết, như độc giả có thề nhận xét. V́ là một cuốn sách ư kiến, và hơn nữa ư kiến cá nhân, nên việc liệt kê tài liệu lại càng khó. Tác giả viết với kiến thức và suy tư cá nhân của ḿnh cho nên nếu muốn liệt kê hết các tài liệu đă ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên cuốn sách th́ có lẽ phải liệt kê hết tủ sách của ḿnh. Điều này không phải chỉ khó mà c̣n không thể làm được v́, một mặt, có những tài liệu, như báo chí, tác giả đă tự ư hủy bỏ v́ không có chỗ lưu giữ và, mặt khác, có những biến cố đă khiến tác giả nhiều lần mất tất cả hay gần hết tủ sách. Trong những trích dẫn về Khổng Giáo, tác giả sử dụng bản Luận Ngữ do Nguyễn Hiến Lê biên soạn và nhà xuất bản Văn Nghệ (Nam Cali, Mỹ) phát hành, có đối chiếu với các bản nghiên cứu Luận Ngữ bằng tiếng Pháp của Bùi Đức Tín (Pierre Gastine) và Anne Cheng. ở đây xin lưu ư độc giả là tác giả không đồng ư với phần lớn những giải thích về Khổng Giáo và Khổng Tử trong các lác phẩm này. Theo tác giả, Luận Ngữ và Khổng Tử cần được hiểu theo bối cảnh xă hội Trung Quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc trong khi các tác phẩm nói trên thường vô t́nh giải thích theo những quan niệm về Nho Giáo được h́nh thành rất lâu sau giai đoạn này. Phần lớn các số liệu về thế giới được lấy từ những nguồn tài liệu được cập nhật hóa hàng năm sau đây:

 

― Encyclopedia Universalis (Encyclopedia Universalis, Paris),

 

― Etat du Monde (Edition de la Découverte, Paris),

 

― Bilan Economique ét Social (của nhật báo Le Monde, Pháp),

 

― The World Almanac (Houghton, Miftline Company, Hoa Kỳ),
The World Bank anual Report (do Ngân Hàng Thế Giới phát hành hàng năm). 
V́ Tổ Quốc An Năn là một cuốn sách để thảo luận về ư kiến nên tác giả đă ít dùng những tài liệu thống kê. Các số liệu được đưa ra thường là những con số có ư nghĩa quan trọng đặc biệt v́ thế độc giả có thề tin là chúng đă được kiểm chứng một cách thận trọng.
Về bố cục, cuốn sách này gồm năm phần. Mỗi phần gồm một số chương, trong cùng một chủ đề. Độc giả ít thời giờ có thề đọc từng chương một cách độc lập với nhau, nhưng cách đọc đúng nhất vẫn là đọc theo thứ tự của cuốn sách v́ trong mỗi chương tác giả coi như độc giả đă nắm được ư của phần trước. Tuy được viết thành những chương ngắn nhưng Tổ Quốc Ăn
Năn không phải là một tuyển tập những bài nghị luận mà là một cuốn sách.

3. Sơn hà gấm vóc

Tôi c̣n nhớ một bài thơ học thuộc ḷng lúc ở lớp Nhất tiểu học, không biết của tác giả nào:

 

Trên dải đất chạy ven bờ biển cả

 

Dưới trời Đông Nam á rạng màu xanh

 

Một giống người nhỏ bé nhưng tinh anh

 

Đă xây đắp một sơn hà gấm vóc...

 

Trong trí óc non yếu của tôi, nước Việt Nam ta rộng răi và ph́ nhiêu, người Tàu chen chúc nhau phải di dân sang nước ta lập nghiệp. Đất nước ta, theo những bài học đầu đời của tôi và được nuôi dưỡng cho đến tuổi thanh niên, đầy tài nguyên phong phú. Nước ta đầy hứa hẹn và có một tương lai vô cùng xán lạn. ư nghĩ đất nước ta có tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú là ư nghĩ rất lan tràn. Tôi đă gặp không biết bao nhiêu người quả quyết như vậy. Sau 30-4-1975, trong trại cải tạo, tôi được nghe rất nhiều sĩ quan, công chức của miền Nam cũ lên án đế quốc Mỹ là đă tới Việt Nam dề cướp bóc tài nguyên. Một anh cựu trung úy và tốt nghiệp văn khoa c̣n phát biểu rằng sở dĩ đế quốc Mỹ lập căn cứ Khe Sanh là v́ ở đấy có một mỏ uranium lớn. Một công chức khác nói rằng Mỹ đến Việt Nam, hất Pháp ra là v́ những giếng dầu khổng lồ của Việt Nam. Có anh c̣n nói các giếng dầu của Việt Nam, so với các giếng dầu ở Trung Đông như con voi so với con tem. Anh ta không giải thích tại sao Mỹ lại rút lui, bỏ rơi những giếng dầu khổng lồ đó.

 

Dĩ nhiên họ phát biểu v́ hoàn cảnh. Họ thua trận, họ vào tù, họ phải mạt sát chế độ Việt Nam Cộng Ḥa và đế quốc Mỹ đề mong được khoan hồng. Nhưng những điều họ nói về tài nguyên đất nước là thành thực. Họ tin như thế. Tôi hỏi anh sĩ quan đă nói về mỏ uranium ở Khe Sanh th́ anh ta không có một dữ kiện nào cụ thề cả, nhưng anh ta tin như thế và tin chắc như đinh đóng cột.

 

Không hiểu v́ lư do nào mà hầu hết mọi người Việt Nam đều có niềm tin sai lầm rằng đất nước Việt Nam bao la, tài nguyên của việt Nam vô tận. Cuốn Địa Lư Kinh Tế Việt Nam (Văn Trai, chủ nhiệm bộ môn Địa Lư Kinh Tế Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Ḥ Chí Minh, xuất bản lần thứ 4 năm 1990) khẳng định: Các tài nguyên quặng mỏ nước ta có nhiều loại trữ lượng lớn, chất lượng cao, dễ khai thác, bảo đảm phát triển công nghíệp trong nước lâu dài và mạnh mẽ, đồng thời c̣n có thể xuất khẩu nữa. Niềm tin ở tài nguyên to lớn của đất nước rất thường gặp trong nhiều bài viết, bài nói và tác phẩm của các tác giả thuộc mọi khuynh hướng chính trị. Niềm tin này tạo ra một sự yên tâm tai hại. H́nh như mọi người Việt Nam đều tin rằng đất nước ḿnh thế nào rồi cũng sẽ phú cường, do đó mà mất đi sự lo lắng cần thiết đề giữ ǵn đất nước và xây dựng tương lai. Và cũng v́ thế mà có tâm lư phá hoại và vô trách nhiệm.

 

Sự yên tâm này không những chỉ tai hại mà c̣n làm chết người. Đó là tâm lư ngự trị trong đầu óc những người lănh đạo đảng cộng sản. Năm 1945 họ thực hiện chính sách tiêu thổ kháng chiến, họ đập phá tất cả các thành phố, đường bộ, đường sắt. Trong chiến tranh họ không bao giờ lưỡng lự khi phá hoại bất cứ một công tŕnh nào. Một bài t́nh ca yêu nước của người cộng sản có hai câu:

 

Em đi phá lộ Đông Dương,.

 

Anh về đánh bốt Mỹ Lương, Đông Hà.

 

(Đánh bốt có nghĩa là đánh đồn. Trẻ em thường hát sai thành đánh đốt).
Thơ mộng quá! C̣n ông Hồ Chí Minh? ông phát biểu quyết tâm chinh phục miền
Nam như sau: Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn nhưng chân lư ấy khôn thể nào thay đổi? Ghê gớm không? Sẵn sàng chấp nhận chiến tranh đến sông cạn, núi ṃn, không lư ǵ đến sự tàn phá mà đất nước có thể phải chịu đựng. Một lần khác ông tuyên bố rằng đế quốc Mỹ có thể gia tăng ném bom tại Bắc Việt, có thể phá hoại đường sá, hay tiêu hủy nhiều thành phố nhưng sẽ không bao giờ làm cho đảng cộng sản Việt Nam nhụt ư chí đấu tranh. Độc giả đừng vội nghĩ rằng tôi đang chống cộng và kề tội người cộng sản. Tôi nghĩ rằng trong thâm tâm không nhiều th́ ít ai cũng yêu nước, và người cộng sản cũng thế. Có lẽ sai lầm cơ bản là chúng ta không đánh giá đúng tiềm năng của đất nước và mức độ chịu đựng tối đa của nó. Chúng ta nghĩ rằng nước ta có tiềm năng vô tận và v́ thế có bị đập phá cũng không sao.
Nếu ngược lại ta ư thức rằng đất nước ta nhỏ bé chật hẹp, tài nguyên của ta ít ỏi, có lẽ ta sẽ hành xử rất khác. Ta sẽ quí từng con đường nhỏ, từng cây cầu, từng dăy phố, từng căn nhà. Chúng ta sẽ tránh được những phí phạm và những cuộc chiến tranh làm chết hàng triệu người và tàn phá đất nước.

 

Mà sự thực ta có ǵ đâu?

 

Mỏ quan trọng nhất trong đất liền của ta là than đá anthracite với trữ lượng 6 tỷ tấn. Sản lượng hàng năm là 8 triệu tấn, nếu khai thác tối đa có thể đạt tới 20 triệu tấn. Có nên khai thác tối đa hay không lại là một vấn đề khác. Nhưng ngay cả như thế sản lượng than dá của ta cũng chỉ bằng ba phần ngàn sản lượng hàng năm của thế giới, thua xa Cao Ly (77 triệu tấn), Ba Lan (150 triệu tấn), Đức (77 triệu tấn), Anh (93 triệu tấn). Đó chỉ là để kể một vài nước có diện tích tương đương hay nhỏ hơn nước ta. Và tất cả những nước này c̣n nhiều tài nguyên phong phú khác mà ta không có. Mỏ sắt của ta, được kể như một tài nguyên lớn, chỉ có trữ lượng tổng cộng 540 triệu tấn - nghĩa là rất khiêm nhường, tương đương với sáu tháng sản xuất trên thế giới -, đă thế lại phân tán ra trên 200 mỏ, cho nên không thể khai thác qui mô được. Các mỏ khác của ta đều không đáng kể. Thí dụ như nickel, một trong những tài nguyên được coi là quan trọng của ta chỉ có một trữ lượng tổng cộng cho các mỏ là 3 triệu tấn, nhưng phần lớn lại pha lẫn trong chrome, ở Cổ Định (Thanh Hóa), tương đương với một năm sản xuất của ḥn đảo nhỏ xíu Nouvelle Calédonie.

 

Ngoài ra ta có hai mỏ khác có triển vọng khá là mỏ chrome ở Thanh Hóa (trữ lượng 21 triệu tấn) và mỏ apathite ở Lào Cai (trữ lượng công nghiệp 135 triệu tấn). Từ vài năm gần đây, Việt Nam trông đợi rất nhiều vào đầu khí. Nhưng đây cũng chỉ có thể là một hy vọng rất khiêm nhường.

 

Trữ lượng của ta, theo những ước đoán lạc quan, không bao nhiêu, chỉ vào khoảng 400 triệu tấn (thế giới: 400 tỷ tấn). Sản lượng dầu lửa hợp lư của ta sau này chỉ có thể đạt tới mức tối đa 15 triệu tấn mỗi nam, nghĩa là tương đương với một tuần lễ sản xuất của Mỹ, hoặc Nga, hoặc Saudi Arabia, trừ khi ta áp dụng chính sách ăn xổi ở th́, khai thác cho hết thực nhanh chóng và bất chấp tương lai. Trong trường hợp này những đầu tư thiết bị vào dầu lửa sẽ thành vô dụng sau một thời gian ngắn. Mặt khác, nhu cầu năng lượng của ta sẽ tăng lên mau chóng (ít ra ta phải hy vọng như vậy) cùng với đà phát triển, và các mỏ dầu chỉ giúp ta giảm nhẹ hóa đơn dầu nhập cảng mà thôi.
Khí đốt hy vọng mới của Việt
Nam cũng vậy, với một trữ lượng 100 tỷ mét khối (hy vọng rằng ta c̣n t́m được thêm), 1 % của trữ lượng trong vùng và 7 phần mười ngàn (7/10.000) trữ lượng thế giới, ta cũng chỉ có thể hy vọng bớt đi phần khí đốt phải mua vào mà thôi. Nếu cần một con số nói lên sự nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên của ta th́ đó là con số 13. Hiện nay, năm 2000 chúng ta đứng hàng thứ 1 3 trên thế giới về dân số với 78 triệu người, nếu không kiểm soát được đà gia tăng th́ đến đầu thế kỷ 21 chúng ta sẽ qua mặt Đức (80 triệu dân) để lên hàng thứ 12, nhưng ta không đứng trong số 13 nước đầu, mà cũng không đứng trong số 30 nước đầu, về một tài nguyên nào cả.
Tài nguyên đă giới hạn như thế hiện nay chúng ta lại rất nghèo, rất lạc hậu, rất thua kém. Liệu chúng ta có một tương lai nào không? Và nếu muốn có th́ phải làm thế nào? Hăy khoan trả lời những câu hỏi đó. Nhưng ngay tại đây ta có thể nói rằng ư thức được hoàn cảnh khó khăn của ḿnh tự nó cũng đă là một hành trang quí báu, bởi v́ nó cho ta một cách ứng xử đúng đắn, nó đem lại cho ta một thái độ lo lắng và thận trọng trong việc dựng nước, nó giúp ta ư thức được sự cần thiết của cố gắng .

4. Rất đượm hương và rộn tiếng chim

Không biết ông Tố Hữu có phải là nhà thơ theo đúng nghĩa của một nhà thơ không. Nhưng ông có tài làm thơ, hiểu theo nghĩa những câu ngắn có vần ở cuối, và tài làm thơ đă góp phần quyết định đưa ông lên gần tới tột đỉnh của danh vọng và quyền lực. ông biết dùng những h́nh ảnh rất đẹp và giản dị ngay cả khi đề diễn tả những t́nh cảm giả tạo với những mục đích rất thực tiễn. Như khi ông dùng h́nh ảnh đứa bé tập nói để ca tụng Stahn, hay khi ông dùng h́nh ảnh một người con ân cần nắm tay cha để nịnh Hồ Chí Minh. Bài thơ Từ ấy của ông được người cộng sản ca tụng như một bài thơ hay.

 

Nó bắt đầu như sau:

 

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

 

Mặt trời chân lư chiếu qua tim

 

Hon tôi là một vườn xanh lá

 

Rất đượm hương và rộn tiếng chim.

 

Qua những câu thơ này, ông Tố Hữu muốn diễn tả nỗi hân hoan của ông khi t́m ra chân lư Mác-Lênin và dấn thân tranh đấu trong Đảng Cộng Sản Việt Nam. C̣n ǵ đẹp bằng màu xanh của lá và tiếng hót của chim?

 

ông Tố Hữu đă tranh đấu và đă thành công. Lư tưởng của ông đă đạt được. Con đường thắng lợi của đảng ông đă đi qua hàng triệu xác chết. Để đi đến kết quả nào?

 

Trong mùa hè 1992, một người bạn Pháp, sau chuyến đi công tác một tháng tại Việt Nam, kề cho tôi nghe là anh ta thường thức dậy sớm v́ sai biệt giờ giấc. Anh ta nói khu anh ta ở không có chợ v́ nằm ngoài thành phố và buổi sáng im lặng một cách lạ thường v́ hoàn toàn không có một tiếng chim.

 

Anh ta có nhiều chuyện quan trọng hơn đề nói cho tôi nghe và tôi cũng có nhiều chuyện để hỏi anh ta; những số liệu, những cuộc gặp gỡ, những nhân vật đă tiếp xúc, nhận định, cảm tưởng v.v. Và tôi không lưu ư tới chi tiết này.

 

ít lâu sau, lại một người bạn khác, hay đi về Việt Nam, kể cho tôi nghe chuyện qua bắc Mỹ Thuận. Tôi th́nh ĺnh nhớ tới những quán bán chim nướng và hỏi anh ta có ăn chim nướng ở đó không. Anh ta trả lời rằng có, nhưng đó chỉ là gà con mới nở được đem chiên thay cho chim chứ chim không c̣n nữa. Tôi bắt đầu lưu ư tới đàn chim Việt Nam.
Trong mùa hè 1993, nhiều anh em trong nhóm Thông Luận về thăm nhà. Tôi dặn mọi người đễ ư xem Việt
Nam c̣n nhiều chim không. Họ đem thuật lại như nhau, và điều họ nói làm tôi sửng sốt: Việt Nam không c̣n chim? Chỉ có một người bạn đi từ Nam ra Bắc mới thấy một con chim ở Vịnh Hạ Long, anh ta vội vă lấy máy h́nh ra chụp ảnh con chim ấy đem về cho tôi.

 

Cà Mau trước đây có một rừng c̣ lớn, có rất nhiều loại c̣, nhiều đến nỗi có nhưng người chuyên đi vào rừng lượm trứng c̣ và mỗi ngày lượm được cả rổ đem ra chợ bán. Tôi dặn một người bạn nhớ viếng khu rừng c̣ đó và anh ta cho tôi hay khu rừng c̣ chỉ c̣n rất ít c̣ ít một cách không đáng kể. Thế là cuộc cách mạng của ông Tố Hữu thành công và Việt Nam hết chim.

 

C̣n màu xanh của lá?

 

Những người qua lại Việt Nam đều đồng ư. Rừng bị phá hoại thẳng tay. Cho tới năm 1993, hàng ngàn công ty thi nhau đốn cây lấy gỗ xuất khau. Hàng trăm ngàn gia đ́nh sống bằng nghe phá rừng lấy củi đem bán cho hàng triệu gia đ́nh cần chất đốt. Chỉ tới giữa năm 1993, nhà nước mới ra lệnh cấm xuất cảng gỗ, và mới bắt đầu có một cố gắng rất h́nh thức để trồng lại rừng, nhưng rừng vẫn tiếp tục bị phá nhanh chóng. Nhà nước cộng sản cũng không giấu giếm việc này, và nhiều báo chí đă lên tiếng báo động. Nhưng c̣n ǵ để báo động? Những con số đă thực kinh khủng: 3/4 rừng Việt Nam đă bị phá, chỉ riêng trong 20 năm từ 1975 đến 1995, kể từ ngày đất nước thống nhất hơn một nửa diện tích rừng trên toàn quốc bị phá hủy. Mùa hè 1999, tôi lại được đọc một nguồn tin của nhà nước theo đó th́ khoảng 1/3 diện tích rừng đă bị phá từ năm năm qua. Rừng Việt Nam c̣n lại bao nhiêu có lẽ không ai biết được một cách chính xác nhưng tôi nghĩ sự thực có lẽ c̣n bi đát hơn các con số. Báo chí thế giới đă nói tới rất nhiều, và chính quyền c̣n nói nhiều hơn, về những tàn phá gây ra cho rừng v́ những thảm bom B52 và nhất là chất độc màu da cam của Mỹ. Điều đó đúng, và rừng cây Việt Nam đă bị thiệt hại rất nhiều. Nhưng không thấm vào đâu so với những tàn phá của 25 năm quản lư đất nước bất chấp môi sinh. Người ta cứ tưởng đất nước Việt Nam vô tận, thiên nhiên Việt Nam vô tận nên cứ thẳng tay tàn phá. Vô lư nhất là việc cho phép xuất cảng gỗ cho tới vài năm gần đây cũng vô lư và đần độn như việc xuất khẩu kim loại phế thải trước đây với giá rẻ mạt, rồi bây giờ phải mua lại với giá đắt gấp mấy chục lần. Việt Nam chưa bao giờ dư gỗ cả. Chúng ta có gỗ để xuất khẩu chỉ v́ chúng ta quá nghèo. Không cần nói tới miền Bắc và miền Trung, nơi cuộc sống nông thôn chỉ là một sự đầy đọa và ở đó chẳng làm ǵ có chuyện sắm bàn ghế, giường gỗ, tủ gỗ. Tôi đă đi qua các tỉnh miền Tây Nam phần trù phú, ở đó hầu như tất cả các căn nhà đ̣ng quê đều dựng lên bằng tre, và mỗi gia đ́nh chỉ có một hai chiếc giường bằng gỗ; bàn ghế hầu như không có. Khi mức sống đă tăng lên, và phải hy vọng là mức sống sẽ tăng lên, chúng ta sẽ phải nhập cảng một số lượng gỗ lớn.
Đất nước ta đă chật hẹp, đă không có tài nguyên thiên nhiên, c̣n bị phá hủy và trở thành cằn cỗi. Không c̣n rừng xanh và bặt tiếng chim!
Ngày xưa, Nguyễn Trăi kể tội quân Minh tàn phá nước ta: Tàn hại cả côn trùng thảo mộc? Quân Minh không phải là người Việt
Nam và v́ thế có thể không quí trọng thiên nhiên Việt Nam. Ngày nay chính người Việt Nam tàn phá đất nước Việt Nam. Khi đất nước Việt Nam đă bị tàn phá đến nỗi không c̣n sinh sống được nữa th́ cũng không c̣n ǵ để nói và làm nữa. Tôi đă có dịp ghé thăm nước Tunisie. Quốc gia bé nhỏ này đang bị thiên nhiên tiêu diệt từ từ. Sa mạc ngày càng lấn lên từ miền Nam, nước Tunisie đă nhỏ lại càng nhỏ lại. Sự thiếu thốn thảo mộc đang làm thay đổi cả thời tiết. Mưa đổ ào xuống trong ṿng 10 ngày mỗi năm, rồi sau đó là hạn hán. Những con sông trung b́nh chỉ có nước một hai ngày mỗi năm, những ngày c̣n lại chúng đề trơ ḷng sông nứt nẻ. Cả một cố gắng vĩ đại và tuyệt vọng được tung ra dễ trồng cây ngăn chặn sự gậm nhấm của sa mạc. Nhưng đó là một thiên tai. ởViệt Nam tai họa do con người và do người Việt Nam.
Tuy vậy Tunisie vẫn c̣n chim, mắt tôi đă nh́n thấy nhiều đàn chim. Việt
Nam không c̣n chim.

5. Sơn xuyên chi cương vực kư thù

Nguyễn Trăi (1380-1442) mở đầu bài B́nh Ngô Đại Cáo như sau:
Nhân nghĩa chi cử yếu tại an dân,

 

Điếu phạt vi sư mạc tiên khử bạo.

 

Như nói chuyện Đại Việt chi quốc,

 

Thực vi văn hiến chi bằng,

 

Sơn xuyên chi cương vực kư thù,

 

Bắc Nam chi phong tục diệc dị.

 

Trong Việt nam Sử lược, học giả Trần Trọng Kim cung cấp một bản dịch mà nhiều người nói là của cụ Bùi Kỷ: Việc nhân nghĩa cốt yên dân, quân điếu phạt chỉ v́ khử bạo. Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đă lâu. Sơn hà cương vực đă chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. B́nh Ngô Đại Cáo là một áng văn bất hủ, lời lẽ hùng tráng mà ư kiến cũng rất sâu sắc. Được sáng tác vào năm 1427 khi nước ta vừa giành lại được độc lập từ tay quân Minh, B́nh Ngô Đại Cáo có giá trị của một bản tuyên ngôn độc lập. Nó xác nhận văn tài xuất chúng và ư thức chính trị phi thường của Nguyễn Trăi, một trong những anh hùng kiệt xuất nhất trong suốt ḍng lịch sử của nước ta. Hầu hết mọi người Việt nam đều chỉ biết đến B́nh Ngô Đại Cáo qua bản dịch của Trần Trọng Kim (hay Bùi Kỷ?). Bản dịch đó cũng là một tuyệt tác. Tuy nhiên, phù hợp với văn phong của thời các cụ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, nó chú trọng đến lời văn và âm hưởng nhiều hơn là ư, và địch giả đă bỏ qua một chi tiết có tầm quan trọng rất lớn trong sự tồn tại của đất nước ta mà Nguyễn Trăi đă nêu ra. Sơn xuyên chi cương vực kư thù được dịch là Sơn hà cương vực đă chia thay v́ núi sông bờ cơi riêng biệt hay lănh thổ có núi ngăn chia, bỏ qua mất cụm từ sơn xuyên , có nghĩa là núi sông nhưng cũng có thể có nghĩa là cách núi. Nguyễn Trăi muốn nhấn mạnh sự kiện Việt nam và Trung Quốc cách nhau một dăy núi. Câu mở đầu của B́nh Ngô Đại Cáo có thể dịch sát nghĩa hơn như sau:
Chính trị chuyên mưu t́m ḥa b́nh, chiến tranh chỉ là để khử trừ bạo ngược. Nước Việt nam là một nước văn hiến, lănh thổ có núi ngăn chia, phong tục Bắc
Nam khác nhau....  Bỏ qua vách núi là bỏ qua một yếu tố rất quan trọng của nước ta. Chính nhờ núi mà nước ta c̣n đến ngày nay. Dọc theo biên giới Trung Quốc là cả một vùng núi non dày đặc, dày gần một trăm cây số. Dọc theo biên giới Lào là dăy Trường Sơn. Hai dăy núi này kết hợp với nhau làm một tường thành kiên cố che chở và cô lập các đồng bằng miền Bắc và miền Trung nước ta. Chính nhờ núi mà Trung Quốc đă không thể thôn tính và đồng hóa nước ta, và cũng nhờ núi mà nước Lào đă không bị Việt hóa. Trước đây khi nước ta chưa thực sự h́nh thành, thế lực c̣n đơn sơ đến độ một đạo quân nhỏ cũng đủ đề chinh phục, Trung Quốc đă đặt được sự thống trị lên quận Giao Chỉ, nhưng số người Tàu đủ mạo hiểm để vượt núi qua nước ta lập nghiệp đă rất giới hạn. V́ thế mà một ngàn năm Bắc thuộc đă không thể biến Việt nam thành một vùng hoàn toàn hội nhập vào Trung Quốc. Khi người Việt nam trở thành đông đảo với thời gian và giềng mối xă hội trở thành gắn bó, ta đă đuổi được quan cai trị người Tàu rồi bảo vệ được nền độc lập. Từ khi giành hẳn được độc lập, năm 939 ta chỉ bị rơi vào ách Bắc thuộc hai mươi năm, từ 1407 đến 1427, trong một bối cảnh suy đồi đặc biệt. Cuộc chiến tranh giải phóng do Lê Lợi cầm đầu đă rất vẻ vang, nhưng khách quan mà nói lực lượng Trung Quốc xa hậu cứ và khi phải đương đầu với cuộc chiến tranh giải phóng Trung Quốc đă không chứng tỏ một quyết tâm đặc biệt nào đề duy tŕ nền thống trị.
Các đạo quân xâm lăng phải vượt qua những đường ṃn chật hẹp dài cả trăm cây số nên vận tải lương thực rát khó khăn, và làm mồi ngon cho các cuộc phục kích. Muốn xâm nhập nước ta, quân Trung Quốc thường phải đi đường biển đổ bộ xuống vùng Nghệ An, rất xa địa điểm xuất phát xét theo phương tiện di chuyển ngày xưa, hay cửa Bạch Đằng, tuy gần hơn nhưng vẫn c̣n phải đi một chặng đường hiểm trở đề tiến về Hà Nội. Nhờ thường xuyên đánh thắng quân xâm lăng phương Bắc, chúng ta thường tự hào về sức sống mănh liệt của dân tộc, mà ít khi chịu khiêm tốn đề nh́n nhận rằng sự tồn tại của nước ta chỉ được bảo đảm nhờ vách núi dày đặc và hiểm trở. Nhiều nhà lư luận nặng đầu óc dân tộc đă biện bạch rằng dân ta đứng vững được nhờ có một nếp sống riêng, một nền văn hóa dân tộc cao, một tinh thần dân tộc cao và một tinh thần chiến đấu đặc biệt kiên cường.  Những yếu tố đó đều đúng nhưng chỉ đúng một phần mà thôi. Ta đă phóng đại và huênh hoang quá đáng. Thực ra tinh thần dân tộc của ta không lấy ǵ làm mạnh và khả năng chiến đấu của ta tuy khá nhưng không thể nói là phi thường. Về văn hóa, ta đă bắt chước người Tàu một cách mê mải và vô điều kiện. Nếu văn hóa của ta vẫn c̣n khác văn hóa Tàu th́ cũng chỉ v́ ta bắt chước chưa xong mà thôi. Văn hóa ta khác văn hóa Trung Hoa không phải ở chỗ ta thực sự khác mà là ở chỗ ta chưa bằng. Sự khác biệt ở tŕnh độ nhiều hơn là ở bản chất. Sau này khi lệ thuộc người Pháp, chúng tà cũng đă mê mải chạy theo văn hóa Pháp. Nhiều người c̣n muốn quên hẳn gốc gác Việt nam.
Những người vong bản này không hẳn là những người phản quốc, ngay cả phản quốc hiểu theo nghĩa cộng sản. Năm 1980, tôi có dịp nghe một bài nói chuyện của ông Phạm Văn Đồng, lúc đó là chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt nam. Ông Phạm Văn Đồng là một trong những người lănh đạo chủ chốt của cuộc chiến tranh cam go chống Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông Đồng là người đă giữ chức vụ thủ tướng lâu nhất tại Việt nam trong gần 40 năm. Trong các lănh tụ cộng sản, ông là người được các đảng viên kính trọng nhất sau ông Hồ Chí Minh. Ông được coi là lănh tụ cộng sản kỳ cựu có văn hóa cao. Điều đặc biệt là ông Phạm Văn Đồng, mặc dầu đảm nhiệm chức vụ chính trị quan trọng đă tỏ ra đặc biệt ưu tư tới tiếng Việt ông viết một loạt bài dưới đề tựa Giữ ǵn sự trong sáng của tiếng Việt. Và tôi đă nghe ông Đồng nói những ǵ? Bài nói chuyện của ông có ít nhất 20% là tiếng Pháp. Ông chêm tiếng Pháp bất cứ lúc nào ông có thể chêm được. Có khi ông nói cả những câu hoàn toàn bằng tiếng Pháp mà hầu hết cử tọa không hiểu. Tôi hỏi một người bạn đảng viên khá cao cấp đă nhiều lần nghe ông Đồng thuyết tŕnh, anh ta cho hay ông Đồng lúc nào cũng nói như vậy v́ ông ấy học giỏi và quen miệng nói tiếng Pháp. Thực ra bác sĩ Đặng Văn Hồ (mà tôi gọi bằng chú do một liên hệ gia đ́nh gián tiếp), bạn học của ông Đồng, cho tôi hay ông Đồng chưa học hết trung học bản xứ và đă từng nói với bác sĩ Đặng Văn Hồ rằng: Mày đậu tú tài th́ học tiếp tao không có tú tài th́ đi làm cách mạng. Như thế vốn liếng tiếng Pháp của ông Đồng tuy có thực nhưng không nặng đến nỗi sau hơn một nửa thế kỷ đấu tranh chống Pháp ông vẫn c̣n phải chêm tiếng Pháp luôn miệng như vậy. Tôi học và sử dụng tiếng Pháp nhiều hơn hẳn ông Đồng, tôi cũng sinh sống tại đất Pháp lâu năm, nhưng không có nhu cầu phải pha thêm tiếng Pháp trong khi viết và nói tới mức độ như ông Đồng. Ông Đồng chêm tiếng Pháp v́ ông thích tiếng Pháp, cho rằng nói tiếng Tây là sang. Và ông nghĩ như vậy, bởi v́ những người chung quanh ông cũng nghĩ như vậy, người Việt nam rất vọng ngoại về mặt văn hóa.  Đă nói tới người cộng sản th́ cũng phải nói đến người quốc gia. Ông Nguyên Văn Thiệu tuy vốn liếng tiếng Pháp chẳng hơn ǵ ông Đồng là mấy nhưng cũng luôn miệng nói tiếng Pháp. Trong biên lai mà ông kư cho tướng Trần Văn Đôn đễ nhận một triệu đồng tiền thưởng của t́nh báo Mỹ sau cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, ông viết Bon pour 1.000.000 piastres. Một biên lai giữa người Việt với nhau lại viết bằng tiếng Pháp. Như thế mới sang. Trong thời gian làm việc tại Ngân Hàng Việt nam Thương Tín và Bộ Kinh Tế, tôi đă được đọc nhiều hồ sơ. Hồ sơ nào hầu như cũng pha tiếng Pháp, có hồ sơ hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Đó là sau khi Pháp đă ra đi gần 20 năm!  Sức chiến đấu kiên cường của ta cũng cần xét lại. Quả thật ta đă có những chiến công hiển hách, nhưng cũng có những lúc mà sức chiến đấu của ta kể như không có. Bảy người lính Pháp đă có thể vào chiếm tỉnh Ninh B́nh, bắt quan quân Việt nam qú gối hạ khí giới. Vài trăm lính Pháp đă có thể hạ được Thăng Long, đánh tan nhiều ngàn quân Việt nam, một lần bắt sống Nguyễn Tri Phương, một lần buộc Hoàng Diệu phải tuẫn tiết. Hồ Quí Ly chuẩn bị một đạo quân đông đảo và hùng hậu dề đương đầu với quân Minh. Nhưng chỉ một đạo quân nhỏ của Trương Phụ đă đánh tan được toàn bộ quân nhà Hồ và bắt sống Hồ Quí Ly trong một thời gian chớp nhoáng. Vậy phải giải thích thế nào những chiến công của ta? Quan sát kỹ ta thấy người Việt nam có tâm lư sợ và phục tùng uy quyền. Khi có những cấp chỉ huy cứng cỏi, họ chiến đấu có hiệu lực. Nhưng không nên vội đồng hóa tâm lư sợ và phục tùng cấp trên với ư chí sẵn sàng chiến đấu và chấp nhận hy sinh v́ đất nước. Trong một đoạn khác tôi sẽ trở lại vấn đề này. Tôi nói văn hóa đặc thù của ta không có bao nhiêu, tinh thần dân tộc và khả năng chiến đấu của ta chỉ giới hạn hoàn toàn không phải nhằm mục tiêu hạ nhục dân tộc ta. Để làm ǵ?
Tôi chỉ muốn lưu ư rằng khả năng tự vệ của dân tộc ta thực ra chỉ vừa phải, chúng ta đă tồn tại được chủ yếu là nhờ có núi làm biên giới thiên nhiên. Ngày nay, trong thế giới hiện đại này, núi không c̣n là mộc che thân của ta nữa và biển lại là cửa vào xâm nhập lư tưởng; sự xâm nhập không c̣n bằng quân sự mà bằng văn hóa, kinh tế, thương mại, sách báo, phim ảnh, âm nhạc. Ta phải hết sức lo lắng để giữ nước v́ bài toán giữ nước đă thay đổi hoàn toàn. Chúng ta không c̣n trông vào núi được nữa. Muốn giữ nước từ đây ta phải có khả năng tự vệ thực sự, tinh thần dân tộc thực sự, ḷng yêu nước thực sự.
Làm thế nào đề có những yếu tố đó phải là ưu tư của mọi người quan tâm tới đất nước.

6. Nước non ngh́n dặm

Người Việt nam nào h́nh như cũng biết câu ca dao Nước non ngh́n dặm ra đi. Cụm từ nước non ngh́n dặm cũng đă là đầu đề của nhiều tác phẩm, và được dùng trong vô số bài hát, bài thơ. Nó đă làm cho nhiều người nghĩ đất nước ta rộng răi, bao la. Sự thực th́ chúng ta rất thiếu đất. Với 78 triệu người (năm 2000) trên một diện tích 330.000 km2, nghĩa là 237 người trên một kilômét vuông, chúng ta là một trong những nước có mật độ cao ngất, gần gấp đôi Trung Quốc (120 người / km2) và xấp xỉ bằng ấn-độ (270 người / km2), hai nước được coi là có nạn nhân măn trầm trọng. Nhưng không phải chỉ có thế. T́nh trạng thiếu đất thật ra c̣n trầm trọng hơn nhiều. Nếu núi đă giúp ta giữ nước, th́ núi và đồi cũng đă chiếm mất của ta ba phần tư lănh thổ. Tại miền Bắc và Bắc Trung Bộ, đồi và núi chiếm hơn 80% lănh thổ. Tỷ lệ đất đai canh tác được của ta không tới 25 %. Nếu trừ đi thành phố, nhà cửa, đường sá sông ng̣i th́ diện tích c̣n lại để trồng lúa tối đa của ta không quá 7 triệu héc-ta. Nói đến thiếu đất người ta nghĩ ngay đến hạn chế sinh đẻ. Chính quyền hiện nay theo đuổi một chính sách hạn chế sinh đẻ vừa rời rạc vừa hung bạo. Trong truyện ngắn nỗi tiếng Tướng về hưu, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp kể chuyện một vị tướng cộng sản về hưu đă phải bỏ ra đi t́m lại đơn vị cũ của ḿnh đề rồi thiệt mạng v́ không thể chịu đựng được cảnh cô con dâu, một bác sĩ sản khoa, đem những thai nhi đă bị phá về nhà làm thức ăn nuôi chó béc-giê kỹ nghệ. Trong cuộc Hội Luận Dân Chủ Đa Nguyên tháng 10-1990, nhà nghiên cứu Đinh Trọng Hiếu, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Pháp, vừa từ Việt nam sang sau một chuyến nghiên cứu dài ba tháng về đời sống nông thôn, đă lên diễn đàn mô tả lại cảnh mà ông đă nh́n thấy, cảnh ba bốn phụ nữ bị bắt buộc phá thai trong các trạm y tế. Họ nằm trần truồng bên nhau, dạng cẳng cố trục xuất thai nhi ra, sau khi đă nhận thuốc phá thai. V́ thiếu phương tiện, việc phá thai được phối hợp giữa thuốc và các biện pháp tay chân. Đinh Trọng Hiếu vừa kể vừa khóc. Đọc báo trong nước, người ta cũng vẫn thường gặp những bài nói về các cán bộ, đảng viên bị phê b́nh, hay có khi bị kỷ luật v́ có tới ba con. Nhưng mặc dầu vậy, dân số nước ta vẫn tiếp tục gia tăng xấp xỉ 2%, tức khoảng một triệu rưỡi người mỗi năm. Các biện pháp hạn chế dân số dă man đă chỉ làm xuống cấp con người chứ không ngăn chặn được nạn nhân măn. Có lẽ v́ con người trở thành rẻ rúng mà chính quyền không c̣n quan tâm tới sức khỏe. Sách báo không thầy đăng (hay có đăng mà tôi không đọc được?) tỷ lệ người chết hàng năm. Tôi t́m được một cuốn sách địa lư trung học (Địa lư lớp 9 - Nguyễn Trọng Điều, Nhà xuất bản Giáo Dục, 1989) hai con số: tỷ lệ người chết là 6,3 phần ngàn năm 1979 và 6,95 phần ngàn năm 1986. Như thế có nghĩa là trong ṿng 7 năm tỷ lệ người chết đă tăng lên 10%. Năm 1986 là năm bắt đầu chính sách mở cửa theo qui luật kinh tế thị trường. Từ đó hệ thống y tế của nước ta bị bỏ rơi và xuống cấp không ngừng. Hiện nay, năm 2000, y tế của ta có thể nói là đă sụp đổ hoàn toàn. Theo thống kê của nhà nước, số trẻ em chết trước khi được một tuổi đă tăng 10% trong năm 1998.  Hạn chế đà gia tăng dân số chắc chắn phải là ưu tư lớn của bất cứ một chính quyền Việt nam nào. Nhưng trước hết phải nh́n vấn đề một cách đúng đắn, phải nhận định rằng vấn đề sinh đẻ nhiều trước hết là một vấn đề văn hóa, xă hội và nhân sinh quan chứ không phải là một vấn đề thuần túy kinh tế, và do đó không thể giải quyết bằng những quyết định hành chánh, duy ư chí chính quyền cộng sản đă có một thái độ thiếu lương thiện trên vấn đề này. Trước năm 1975, đảng cộng sản hoàn toàn không đặt ra vấn đề hạn chế sinh đẻ. Lúc đi cải tạo sau ngày 30-4-1975, tôi c̣n được nghe một bài học tập lên án gay gắt ngụy quyền Sài g̣n là đă tiếp tay cho chính sách diệt chủng bằng cách hạn chế sinh đẻ. Chỉ sau Đại hội IV, năm 1976, vấn đề mới đặt ra. Và sau đó những dụng cụ và thuốc ngừa thai mới được khuyến khích, cùng với những quyết định hành chánh rất thô bạo.  Cũng cần phải phân biệt hai vấn đề hạn chế sinh đẻ và giải quyết t́nh trạng dân số cao. Có lẽ tất cả vấn đề là ở chỗ đó. Nếu chỉ hạn chế sự gia tăng dân số mà thôi th́ phải nói rằng đó là một cố gắng vô ích ngay cả nếu thực hiện được. Bởi v́ ngay bây giờ với 78 triệu dân, chúng ta đă tuyệt vọng rồi nếu vẫn cứ là một nước nông nghiệp. Tỷ lệ đất canh tác của ta hiện nay là 10 người một héc-ta. Với tỷ lệ này th́ dù có tăng năng suất tối đa và dù có luôn luôn mưa thuận gió ḥa, chúng ta vẫn sẽ là một nước nghèo khổ

 

Vấn đề thực sự đề giải quyết nạn đất hẹp người đông là phải thay đổi chức năng của đất nước từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp. Trong dài hạn, nông nghiệp của Việt nam chỉ có thể đảm bảo đời sống xứng đáng cho khoảng 10 triệu người, trong khi chúng ta sắp có 80 triệu dân. Phần c̣n lại phải chuyển sang công nghiệp và dịch vụ. Cuộc chuyển hóa này sẽ phải được coi là cố gắng vĩ đại nhất v́ từ ngày lập quốc và sẽ chỉ có thể giải quyết bằng một cố gắng liên tục trong nhiều thập niên. Ngay từ bây giờ những người làm chính sách phải luôn luôn có trong đầu viễn ảnh này.

 

Cho tới nay, chính quyền cộng sản luôn luôn có một chính sách cư trú mâu thuẫn. Đại hội IV của đảng cộng sản (năm 1976) chủ trương tiến lên sản xuất công nghiệp lớn xă hội chủ nghĩa nhưng đồng thời đảng lại thi hành chính sách đuổi dân ra khỏi thành phố, đưa dân về nông thôn hay đi các vùng kinh tế mới. Cho đến ngay bây giờ chuyển hộ khẩu về miền quê vẫn là chuyện dễ đàng, ngược lại chuyền hộ khẩu từ nông thôn ra thành phố vẫn là chuyện đội đá vá trời. Nông thôn Việt nam từ lâu đă dư người rồi và càng ngày càng dư người hơn nữa. Thêm người ở nông thôn chỉ có tác dụng chuyển sự nghèo khổ từ thành thị về nông thôn, cho khuất mắt các vị lănh đạo chứ không giải quyết được ǵ cả. Không những không giải quyết được ǵ cả mà c̣n làm giảm năng suất nông nghiệp. Đông người quá th́ không thể cơ giới hóa và c̣n phải hạ thấp mức cơ giới hóa đề sử dụng lao động dư thừa, mà đă không cơ giới hóa th́ năng suất dĩ nhiên là thấp. Năng suất trung b́nh của ngành trồng lúa chỉ là 3,5 tấn hàng năm cho một héc-ta trong khi ruộng đất Việt nam có thể đạt năng suất 6 tấn.

7. Ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh

Trong cuộc chuyển hóa vĩ đại từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp và dịch vụ chúng ta gặp một trở ngại lớn: khí hậu. Chúng ta là một nước nhiệt đới, gần như nóng quanh năm, nhất là ở miền Nam. Sự phá hủy cây rừng từ nhiều năm nay, và vẫn chưa chấm dứt hẳn dù rừng không c̣n bao nhiêu, lại càng cho khí hậu thêm phần gay gắt khó chịu.

 

Khí hậu nóng làm cho con người uể oải, thiếu quyết tâm và mất kiên nhẫn. Các nước phát triển mạnh thường không phải là những nước nhiệt đới. Singapore là một ngoại lệ, nhưng Singapore không phải là một quốc gia theo đúng nghĩa của nó, mà là một thành phố và một hải cảng. Vả lại, đó là một đảo, được biển bao quanh và nhờ vậy gió biển cũng làm dịu bớt khí hậu, như tại Mă Lai. Có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định phát triển là đặc tính của các nước hàn đới và ôn đới. Bắc Mỹ phát triển hơn hẳn Nam Mỹ, Bắc Âu vượt hẳn Nam Âu. Các nước châu á phát triển mạnh cũng thé: Nhật, Triều Tiên, Hương Cảng, Đài Loan và có lẽ sau này Hoa Lục, cũng đều là những nước lạnh, hoặc ít ra không nóng. Có những nhà nghiên cứu xă hội lớn, như Max Weber và Alain Peyrefitte, không tin như vậy và giải thích bằng lư do văn hóa. Bắc Mỹ và Bắc Âu, theo họ, phát triển được nhờ tư tưởng Tin Lành phóng khoáng, trong khi Nam Mỹ và Nam ăn không phát triển v́ ảnh hưởng giáo điều thủ cựu của Công Giáo. Phân tích này có phần đúng, nhưng cũng có thể giải thích rằng tại v́ miền Bắc Âu lạnh, mà con người có nhiều sâu, phát triển óc phê phán và sáng tạo rồi chấp nhận Tin Lành.

 

Dầu sao th́ khí hậu nóng cũng vẫn là một trở ngại lớn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đồng ư các vùng bờ biển phát triển mạnh hơn các vùng lục địa. Biển là kho tàng hải sản vô tận, là sự nới rộng của bờ cơi, và, quan trọng hơn hết, là khả năng giao thông vận tải quan trọng và quí giá vô cùng.

 

Khi vừa mới tốt nghiệp kỹ sư, tôi làm việc cho hăng Pechiney, công ty đứng hàng thứ nh́ thế giới và thứ nhất tại châu Âu vào đầu thập niên 1970 về kỹ nghệ nhôm. Pechiney nhập cảng quặng nhôm từ úc và châu Phi. Nhà máy luyện nhôm nơi tôi làm việc nằm ở trung tâm nước Pháp, cách cảng Marseille chừng 400 km. Chi phí chuyên chở bằng đường biền từ úc tới Marseille gần 20.000 km, nhẹ hơn chi phí chuyên chở 400 km đường sắt từ Marseille đến nhà máy.

 

Ưu thế bờ biển - lục địa quan trọng không kém ưu thế lạnh - nóng. Người ta có thể quan sát rằng từ hai mươi năm nay tại Trung Quốc, vùng duyên hải đă phát triển vượt hẳn vùng lục địa. Ưu thế của bờ biển càng rơ nét trong trường hợp Trung Quốc nếu người ta nhớ lại rằng trong thập niên 1950 Mao Trạch Đông đă cho thi hành kế hoạch đệ tam tuyến, chuyển hết kỹ nghệ vào lục địa đề pḥng ngừa một cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ. Kế hoạch này đă biến Trùng Khánh thành thành phố đông dân nhất Trung Quốc, nó đă làm phá sản các vùng bờ biển.
Biển cũng làm cho khí h&#